2009-07
Bóng tư lợi
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2009-07
- Published Date
- Written by Trích Từ Bước Chân Xa
Sách - Truyện
Khi có một ý tư lợi thì mọi quyết định đều bị bóng của tư lợi che khuất những suy nghĩ tốt đẹp.
Đời sống nếu vì lợi riêng cho mình nhiều quá, thì trong cách nói năng suy nghĩ đều có chiều hướng tìm cách đạt được những lợi ích riêng tư, nên thường không từ mọi “thủ đoạn’ để đạt đến.
Ngồi yên như núi
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2009-07
- Published Date
- Written by TS Thích Nhất Hạnh
Bài Viết - Tùy Bút (Bài Viết Phật Giáo)
Ngày 20.7.2009
Thân gửi các con của thầy ở Bát Nhã, Từ Hiếu, và khắp nơi,
Thầy đang ngồi ở thất Ngồi Yên, xóm Thượng, Làng Mai, viết cho các con. Khoá tu mùa Hè ở Mai Thôn rất vui và rất thanh tịnh. Tuy có khó khăn kinh tế trên thế giới, nhưng số người về Làng tu tập trong bốn tuần lễ cũng rất đông, và có thể đông hơn mọi năm. Trẻ em đông đã đành, mà các em thiếu niên (teenagers) từ 12 đến 17 cũng đông lắm.
Sri Lanka: Chùa Răng Phật chuẩn bị lễ hội Esala Perahera
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2009-07
- Published Date
- Written by Thích Định Tánh dịch theo newkerala.com
Phật Giáo Khắp Nơi
(GNO): Esala Pehera là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của Phật giáo Sri Lanka. Lễ hội được tổ chức một năm một lần và năm nay, lễ hội được diễn ra từ ngày 22-7 đến ngày 6-8 ở Kandy, cách thủ đô Colombo khoảng 130 km. Mục đích của lễ hội là để cho công chúng chiêm ngưỡng xá lợi răng Phật.
Read more: Sri Lanka: Chùa Răng Phật chuẩn bị lễ hội Esala Perahera
Báo Động Khẩn về Virus
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2009-07
- Published Date
- Written by Hiếu Nguyễn-Theo CNN
![]()
Khoa học & Đời sống
Báo Động Rất Khẩn Cấp - Nên Cẩn Thận
HAI ÐIỀU NÊN BIẾT:
THÀ AN TOÀN HƠN LÀ ÂN HẬN
HÃY ÐỌC VÀ HÀNH ÐỘNG
Nhật Ký Tu Học - Kỳ 13
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2009-07
- Published Date
- Written by Viên An
Bài Viết - Tùy Bút (Nhật Ký Tu Học)
DƯ ÂM LỜI PHÁP THOẠI
Sinh hoạt tu học chùa Hoa Nghiêm hiện nay gồm có:
2. Đạo tràng Cực Lạc Liên Hửu thành lập hơn 9 năm qua, số liên hữu ghi tên hiện có 108 vị chia ra 4 chúng: Vỉnh Minh, Huệ Viển, Pháp Chiếu và Liên Trì.
Đạo tràng cứ 4 tuần họp một lần, các chúng trưởng báo cáo số lượng phát nguyện niệm phật để cùng nhau sách tấn tu học.
Đặc biệt mỗi kỳ đều có tiết mục: mỗi kỳ một chuyện, do đại diện các chúng thay phiên nhau kể 1 câu chuyện đạo rồi cùng nhau pháp đàm, góp ý trên câu chuyện này, dưới sự chỉ đạo và chứng minh của thầy. Đây là dịp để các liên hữu tư duy và học hỏi giáo lý một cách linh động và hữu ích.
3. Gần đây vì nhu cầu thực hành pháp môn Tịnh Độ lên cao, nhiều phật tử muốn niệm phật nhưng không có nhiều thời gian thọ bát hoặc tham dự vào đạo tràng Cực Lạc Liên Hữu, chùa có mở ra ban Kinh Hành Niệm Phật mổi sáng Chủ Nhật từ 8h30 dến 9h30 dưới sự hướng dẩn kinh hành của thầy trụ trì. Số phật tử tham dự kinh hành rất đông, có tuần số người tham dự lên đến 70 người. Thật là một phương án rất hay để hàng phật tử có ít thời gian thọ bát tu học cũng được lợi lạc.
4. Sáng Chủ Nhật vào lúc 10h đến 11h thầy trụ trì có giảng giáo lý tại chánh điện chùa Hoa Nghiêm chúng tôi lần lượt được nghe giảng nhiều bộ kinh từ thấp đến cao.
Ngoài các chương trình tu học và kinh hành của chùa tổ chức, cũng nên kể đến Thư Viện Phật Học chùa Hoa Nghiêm, tại đây có đầy đủ kinh sách phật học và băng dĩa thuyết pháp của quý thầy để phật tử có thể mượn về học hỏi hoặc tham cứu.
Có thể nói một câu:- công nhận, hiện nay chùa Hoa Nghiêm đả thể hiện đầy đủ chức năng hoằng truyền chánh pháp , đáp ứng đầy đủ nhu cầu tu học của hàng phật tử tại gia, hoan hỷ thay!.
Sau đây xin chia xẻ với đạo tràng dư âm những lời pháp thoại còn lắng đọng trong tôi về 5 vấn đề.
1. Lời pháp thoại sáng Chủ Nhật:
Hàng tuần sáng Chủ Nhật từ 10h đến 11h thầy đều đặn có giảng kinh, chúng tôi đả học qua nhiều kinh căn bản như: kinh Phước Đức, kinh Người Biết Sống Môt Mình, kinh Bát Đại Nhân Giác , kinh Diệt Trừ Phiền Giận, kinh Người Áo Trắng… và chủ nhật vừa rồi thầy đả giảng về chân lý trùng trùng duyên khởi để tạo nên một vật thể, do vậy mọi vật đều không có cái ngã nhất định, đầy đù duyên thì thể hiện gọi là có, nếu thiếu mất duyên thì ẩn tàng chứ không phải là mất hẳn. Nếu hiểu thấu lý lẽ này ta sẻ được sự vô úy, không sợ hãi, khi có một người thân qua đời.
Thầy cũng giảng cho chúng tôi hiểu được Tích Môn và Bản Môn cũng như Hiện tượng và Bản thể. Trong lúc giảng về Hiện tượng và Bản thể thầy đả dùng thí dụ: Sóng và nước biển
- Sóng là một hiện tượng tùy duyên
- Nước biển là bản thể
Sóng tan rồi hòa vào nước biển là bản thể chung cùng. Khi đọc bài thơ Sóng Giác Ngộ của Bùi Bích Tâm tôi hiểu rõ hơn xin chép ra đây để bạn đạo cùng tham khảo:
Sóng giác ngộ
Hai con sóng nhỏ
Cùng nhau tâm sự:
- Tôi thật tủi buồn
Thấy mình quá bé nhỏ
Những sóng kia to khỏe
Vươn cao mình mạnh mẻ
Vổ dạt dào tung tóe
Còn chúng ta
Yếu ớt thế ? Bạn ơi
- Bởi anh chưa thấy được
Cái khuôn mặt đích thực
Của chính chúng ta thôi
Nên anh mới buồn bực
-Chúng ta không là sóng
Chúng ta là cái gì?
- Sóng chỉ là hình thức
Cái hình thức tạm thời
Chúng ta vốn là nước
Bản thể ta là nước
Sóng lớn hay sóng nhỏ
Đều cùng chung một nguồn
Không có những sóng nhỏ
Sao thành sóng lớn hơn?
- A! tôi đả hiểu rồi
Bản thể ta là nước
Vậy anh cũng là tôi
Tôi cũng là anh nhỉ?
Chúng ta cùng bản thể
Con người thường ích kỷ
Chỉ nghĩ đến “cái ta”
Và “cái của ta” thôi
Rồi so sánh phân biệt
Được thua và hơn thiệt
Rồi đua tranh giành giựt
Làm khổ mình khổ người
Phiền não mải khôn nguôi
Nếu biết rằng:
Con người
Chỉ là một phần nhỏ
Rất nhỏ của thiên nhiên
Cũng tương tức tương liên
Đừng làm khổ nhau nữa
Biết sóng là nước biển rồi
Biết vọng liền buôn xả
Tĩnh giác hoài ngộ chân
Không còn giành giựt thiệt hơn
Cùng chung bản thể đừng làm khổ nhau!
2. Chử Huân Tập
Một ngày khi nghe lời pháp thoại của một vị pháp sư tôi hiểu rõ hơn về chử huân tập, xin kể lại: Các vị hình dung cái lư hương trên bàn thờ cách trần nhà cở 2 mét, hàng ngày trên lư hương đốt một cây nhang, khói nhang lan tỏa, cho đến một thời gian sau trần nhà nhìn thẳng từ lư hương lên ta thấy bị rám màu vàng sậm, hàng ngày khói một cây hương ta không thấy rõ tác dụng, nhưng lâu ngày nó có khả năng rám vàng trên trần nhà. Huân tập là tích lủy mỗi ngày một ít. Hàng ngày ta cứ nghe lời pháp thoại, cảm thấy như tản mạn nơi đâu nhưng lâu ngày hy vọng sẽ huân tập vào tâm thức ta. Đời này được an lạc và chủng tử thiện này cũng là mớ hành trang tốt đem theo được khi qua đời.
3. Ý nghỉa vãng sanh
Xin kể lại câu chuyện tôi nghe được quý thầy giảng như sau:
Có một bà phật tử tu pháp môn Tịnh-Độ rất chuyên cần. Hàng ngày bà đến chùa, ngồi trước tượng phật A Di Đà lần chuổi niệm phật. Khi niệm xong bà phát nguyện: Nam mô A Di Đà Phật con nay đem công đức niệm phật A Di ĐÀ xin hồi hướng : sau khi thân hoại mạng chung vãng sanh về cỏi nước cực lạc của đức phật A Di Đà. Cứ liên tục như vậy mỗi ngàybà niệm phật xong là hồi hướng. Một hôm, sau khi hồi hướng bà nghe rõ ràng có tiếng nói phát ra từ tượng phật A Di Đà: – Được rồi, ngày mai này sẽ là ngày con được vãng sanh
Bà phật tử nghe câu nói từ tượng phật bà sợ quá ngã lăn ra bất tỉnh.
Chú tiểu thấy bà chết giấc nằm lăn ra sàn chánh điện, chú hoảng hốt chạy ra phía sau bạch thầy trụ trì sự việc.
Thầy trụ trì đến cấp cứu, một lúc sau bà tỉnh dậy.
Thầy hỏi :-bà tỉnh dậy rồi à, bà có sao không?
Bà phật tử mếu máo khóc, con tỉnh lại rồi nhưng mà thầy ôi ngày mai con phải vãng sanh rồi.
Lúc đó chú tiểu mới thú thật là chú đả thấy bà mổi ngày niệm phật và phát nguyện vãng sanh tại đây nên chú mới núp sau tượng phật A Di Đà giả giọng nói Phật A Di Đà hứa cho bà ngày mai bà sẽ vãng sanh. Không ngờ khi nghe ngày mai vãng sanh bà nghĩ đến ngày mai bà chết nên bà sợ quá đến bất tỉnh nhân sự.
Theo câu chuyện trên đây thể hiện phần lớn phật tử chúng ta quan niệm: cố gắng niệm phật hồi hướng để sau khi chết đi thì mới được vãng sanh, vãng là chết, (người chết là người quá vãng), sanh là sanh ra.
Theo tự điển phật học Huệ Quang: chữ vãng sanh: Khi thân hoại mạng chung sanh về thế giới phương khác. Thông thường “vãng sanh” còn được dùng thay thế cho từ “chết”, nhưng sau khi thuyết “Tịnh Độ Di Đà” thịnh hành thì “vãng sanh” chủ yếu chỉ cho việc vãng sanh về thế giới cực lạc.
Nói theo thế đế thì vãng sanh nghỉa là: bỏ đây, sanh kia. Nhưng tông Thiên Thai, thiền tông thì dùng thuyết Duy Tâm Di Đà- Kỳ Tâm Tịnh Độ để bác bỏ thuyết “bỏ đây sanh kia”.
Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói
Di Đà đích thực pháp thân ta
Nam Bắc Đông Tây khắp chói lòa
Hoặc quý thầy vẫn thường nói:
"Phật hiệu Di Đà pháp giới tàng thân, tùy xứ hiện”
hoặc
Tùy kỳ tâm tịnh, tất phật độ tịnh
Dục tịnh phật độ, tiên tịnh kỳ tâm
Ta hảy nghe lời quý thầy lấy ví dụ lúc Vương Thúy Kiều (trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du) từ bỏ lầu xanh đi xuất gia như một ý nghĩa vãng sanh.
“tên Vương Thúy Kiều đả chết rồi trong ô trược, pháp danh Trạc Tuyền con xin nhận từ đây”
Nếu hiểu chử vãng sanh theo nghỉa Duy Tâm Tịnh Độ như thí dụ trên thì chúng ta có thể vãng sanh một ngày nhiều lần. Vãng sanh từng tâm niệm xấu ác, chuyển hóa tâm niệm xấu ác, làm phát sinh ý niệm thiện.
Nếu sống mà luôn tĩnh giác trong câu niệm phật giử tâm được thanh tịnh an lạc thì chết là một sự tiếp nối, sẽ thác sanh thế giới an lạc đúng với tâm trạng ta đạt được lúc còn sống.
Do vậy mới thấy pháp môn Tịnh Độ lợi-lạc cho mọi căn cơ trình độ. Ai phát nguyện chân thành niệm phật đều được an lạc.
4. Sắc tức thị không
Trong kinh Bát Nhã nếu hiểu rỏ nghỉa chử “không” thì có thể hiểu được ý nghỉa kinh Bát Nhã. Tôi đả nghe nhiều thầy giảng với nhiều thí dụ cho phật tử hiểu rỏ, nhưng có thí dụ này khiến tôi mau hiểu hơn xin chia xẻ với quý đạo hữu.
Thi dụ: ta hảy nhìn cầu vòng (rainbow) xuất hiện trên bầu trời có bảy màu tuyệt đẹp , đó là do nhân duyên thời tiết đầy đủ cầu vòng xuất hiện, hiển hiện, tươi đẹp có rõ ràng (là sắc, là có). Sau một thời gian ngắn nhân duyên, thời tiết, khí hậu thay đổi ta nhìn lên bầu trời không thấy còn dấu vết cầu vòng nữa ta nói là không có. Không đây không phải là mất hẳn, mà bảy màu cầu vòng ẩn tàng, bàng bạc trong không gian để đến ngày mai hay ngày mốt đủ nhân duyên thời tiết cầu vòng bảy màu lại xuất hiện.
Do vậy sắc có thể biến thành không mà không có thể biến thành sắc, mọi việc, mọi vật, đều do trùng trùng nhân duyên kết hợp mà thành.
Nghĩ đến đây không thể không ngâm 4 câu kệ của Vô Minh cư sỉ:
Đường đời muôn vạn nẻo
Không có, cũng không không
Hỏi người làm gì đó?
-Chơi.
5. Ứng dụng giáo lý vào việc thực hành niệm phật sao cho được an lạc.
Hòa thượng Nhất Hạnh giảng về kinh Quán Niệm Hơi Thở: Hơi thở có ý thức có thể đem đến cái An và kế đó là Lạc.
Bước chân có chánh niệm, giúp ta an trú trong hiện tại ngay giờ phút bắt đầu thực tập.
Trong quyển Thiết Lập Tịnh Độ của Hòa Thượng Nhất Hạnh
• Niệm phật thì phải niệm bằng tâm, nếu chỉ niệm bằng miệng ta sẽ trở thành một cái máy niệm phật chỉ phát được âm thanh mà không phát được năng lượng chánh niệm
• Khi thực tập đi kinh hành, nên chú tâm tới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chánh điện, đi từng bước An Lạc và Thảnh Thơi như bước trong Tịnh Độ không khác, mỗi bước đi đều đem lại thêm chất liệu chánh niệm, vững chải và thảnh thơi vào cơ thể và tâm thức. Bước đi như in xuống dấu vết niềm An Lạc của mình trên mặt đất.
Tịnh Độ đi từng bước
Vững chải và thảnh thơi
Ngay bây giờ và ở đây
Hiện tại sống chánh niệm
Tịnh độ đả thật rồi
Sau này đổi thân khác
Thế nào cũng An Vui
• Về hơi thở. Quý thầy thường nói: chúng sanh thường hay bị thân một nơi, tâm bay về một nẻo( tâm viên, ý mã). Tâm đi chu du gọi là tâm bất tại. Hơi Thở Là Nhịp Cầu Nối Liền Thân với Tâm.
• Khi hít vào ta niệm Nam mô A và khi thở ra ta niệm Di Đà Phật. Thân tâm Nhất Như ta sẽ có An Lạc ngay giờ thực tập đầu tiên.
• Thực hành niệm phật theo hơi thở có thể hành trì bất cứ lúc nào, dù nằm trên giường bệnh nêú ta ý thức mình còn sống, còn thở, thì ta có thể niệm được
Tỉnh tọa tâm trống rổng
Trầm hương xông ấm lòng
Vọng niệm thôi dừng nghỉ
Hít thở đời thong dong
Tóm lại, kiến giải, lời pháp thoại ,tư duy kinh phật cũng chỉ là nương theo ngón tay để thấy mặt trăng. Khi ứng dụng thực hành để thấy mặt trăng. Quý đạo hửu đang tu học, cũng như tôi đả thấy mặt trăng chưa? Hảy nghe nhà thơ tu sỉ Thiện Hửu chỉ trăng rất rỏ trong 4 câu thơ sau đây:
Em có một chổ đến là nơi vô sở trụ
Không phật thánh, tiên hiền, không bồ tát linh thiêng
Em có một nơi đi còn vẻ trinh nguyên
Vượt ra khỏi ba ngàn kiến giải
Viên An
_______________
Tài liệu tham khảo:
-Nghi thức tụng niệm đại toàn của Hòa thượng Nhất Hạnh
-Thiết Lập Tịnh Độ của Hòa thượng Nhất Hạnh
-Góp nhặt lời pháp thoại của quý thầy
-Thơ Thiện Hửu
-Thơ Bùi Bích Tâm





