Báo điện tử Phật giáo online

Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa VI - Bài III - Tựa Phát Khởi Chúng Bồ Tát

Article Index

3 Chúng Bồ Tát

Kinh văn:

Cùng hội với các bậc Bồ Tát như: Bồ Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Diệu Đức, Bồ Tát Từ Thị, cùng tất cả Bồ Tát trong Hiền Kiếp này.Lại có mười sáu vị Đại Sĩ theo hộ vệ Đức Phổ Hiền là Bồ Tát Thiện Tư Nghị,Bồ Tát Tín Huệ, Bồ Tát Không Vô, Bồ Tát Thần Thông Hoa, Bồ Tát Quang Anh, Bồ Tát Huệ Thượng, Bồ Tát Trí Tràng, Bồ Tát Tịch Căn, Bồ Tát Nguyên Huệ, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Bưu Anh, Bồ Tát Trung Trụ, Bồ Tát Chế Hạnh, Bồ Tát Giải Thoát, đều tuân theo thắng đức của Đại Sĩ Phổ Hiền, đầy đủ vô lượng hạnh nguyện của các Bồ Tát, an trụ trong tất cả pháp công đức, đi dạo mười phương, làm nhiều việc phương tiện, vào trong pháp tạng của Phật, rốt ráo đến bờ kia, dạo vô lượng thế giới hiện thành bậc chánh đẳng chánh giác.

 

 


GIẢNG YẾU

Đoạn này nói rõ những nét đặc thù của các vị Bồ Tát, kể rõ các Bồ Tát theo hạnh Phổ Hiền, tán thán vô lượng công đức của 16 vị Bồ Tát và nói rõ chúng Bồ Tát tham dự.

Đại Thừa: cổ xe lớn có khả năng tiếp độ tất cả chúng sanh. Trong kinh Pháp Hoa Phật dụ ba thừa là xe Dê, xe Nai và xe Trâu trắng. Từ phương tiện nói ba thừa, Phật chỉ cho cứu cánh chỉ còn có một đại thừa tức là Phật thừa.

Bồ Tát: là Phạn ngữ nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa,Bồ Đề dịch là Giác, Tát Đỏa dịch là Hữu Tình. Bồ Tát nghiã là giác hữu tình vì Bồ Tát trong tâm đã đủ năng lực giác ngộ và cũng đủ năng lực giác ngộ cho người.

Có người hỏi: Thanh Văn, Duyên Giác đã giác ngộ, có đủ đạo hạnh giác ngộ tại sao nói Bồ Tát mới giác ngộ chúng hữu tình?

Nói chung bậc Tam Hiền, Thập Thánh đều có giác ngộ, nhưng công hạnh có sai khác. Bồ Tát là những người có ý nguyện lấy việc cứu khổ chúng sanh để chứng quả Đại Bồ Đề. Tất cả chúng sanh có nhưng giả có, cần phải khai quyền hiển thật độ thoát, ngoài việc giác ngộ cho chúng sanh không còn cầu gì khác. Nên trong Địa Trì Luận nói: Một lòng quyết định giác ngộ chúng hữu tình nên gọi là Bồ Tát. Phàm phu chấp Có, Nhị thừa chấp Không, không ở trung đạo nên không thể dẫn dắt chúng hữu tình. Trong Phật pháp lấy Giáo,Nghĩa, Hành làm tiêu chuẩn chính. Thanh Văn là những người căn độn lấy Giáo làm tên. Thanh là nghe, nhờ nghe được giáo lý mà giác ngộ nên gọi là Thanh Văn.Căn cứ vào Giáo Lý là Bậc còn cạn. Duyên Giác là những người tùy theo Duyên mà ngộ giải được Nghĩa nên gọi là Duyên Giác. Căn cứ vào Duyên mà Giác là Bậc Giác Ngộ đã sâu. Bồ Tát tu Hạnh mà giác ngộ, có khả năng thành tựu lợi mình và lợi người, nên gọi là người Giác Ngộ chúng sanh.

Hiền Kiếp: ( Bhadrakalpa ) là một trong ba kiếp. Kiếp trụ của Quá khứ gọi là TRANG NGHIÊM KIẾP. Kiếp trụ của Vị Lai gọi là TINH TÚ KIẾP. Kiếp trụ của Hiện tại gọi là HIỀN KIẾP.

Đoạn này nêu lên ba vị Bồ Tát ở Hiền Kiếp và 16 vị chánh sĩ, đồng thời cũng khen ngợi THỰC ĐỨC và QUYỀN ĐỨC của các Ngài không thể nghĩ bàn. Các vị Bồ Tát này đủ vô lượng hạnh nguyện, thực hành Lục Độ, Tứ Nhiếp Pháp,thành tựu viên mãn các thứ công đức. Dùng phương tiện quyền xảo, tùy theo hoàn cảnh của chúng sanh, hiện nhiều thân tướng để độ thoát. Các Ngài đã chứng hội vào pháp tạng đến quả Niết Bàn, ở trong các thế giới thành bậc CHÁNH GIÁC.

Kinh văn:

Các Ngài ở cung trời Đâu Suất, rộng nói chánh pháp, rời khỏi thiên cung ấy, giáng sanh vào thai mẹ, từ nách bên phải sanh, đi liền bảy bước, ánh sáng rực rỡ, soi khắp mười phương, không lường cõi Phật, sáu điệu chấn động, tự nói lời rằng: Ta sẽ vì cuộc đời khốn khổ làm bậc vô thượng tôn, Đế Thích, Phạm Thiên phò trì, người trời nương về.

Thuở nhỏ thị hiện đủ tài nghệ như: Tính toán, Văn nghệ, bắn cung, cởi ngựa, biết đạo thuật, thông thuộc các sách, đi ra vườn sau giảng võ thử tài. Lớn lên ở trong cung vui, trong trường thinh sắc thấy Già, Sống, Chết, hiểu cõi đời vô thường, bỏ hết tiền của,ngôi vua, vào núi học đạo. Trả về mảo Anh Lạc quí, ngựa trắng, bỏ trân quí để mặc pháp phục, cắt bỏ râu tóc, dưới cây thiền định, cần khổ sáu năm, cầu đạo giải thoát. Hiện ra trong cõi đời năm trược, tùy thuận chúng sanh, phủi giủ trần cấu, tắm gội thân vàng,chư thiên ở trên cành cây, đở ra khỏi ao. Các linh cầm theo sau, ở nơi đạo tràng, có nhiều điềm lành nêu rõ công tác, thương chúng sanh, nhận cỏ trải dưới gốc cây, kiết già vững ngồi, được hào quang lớn, khiến các bọn ma biết được, quyến thuộc của bọn thiên ma đến thử bức bách. Các Ngài dùng sức trí huệ hàng phục được tất cả. Được pháp mầu nhiệm, thành bậc chánh giác cao tột, các cõi trời Thích Phạm cầu xin chuyển bánh xe pháp.