Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa V - Bài X Quán về Chánh Báo
- Details
- Category: Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ
I. Quán tượng Phật và Bồ Tát (Tượng quán)
Kinh văn: Phật bảo: Nầy A Nan và Vi Đề Hy! Khi thấy tướng Hoa Tòa rồi, kế nên quán hình tượng Phật. Phải quán như thế nào? Thân pháp giới của chư Phật Như Lai vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh. Cho nên khi tâm chúng sanh tưởng Phật, tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình; tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Biển chánh biến tri của Phật từ nơi tâm tưởng mà sanh. Vì thế các ngươi phải một lòng hệ niệm quán kỹ đức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri kia. Muốn quán Phật Vô Lượng Thọ trước phải tưởng hình tượng làm sao cho khi nhắm mắt mở mắt đều thấy một bảo tượng như sắc vàng diêm phù đàn, ngồi trên tòa sen kia. Lúc thấy Phật tượng rồi, tâm, mắt được tự mở mang rõ ràng sáng suốt. Bấy giờ hành giả thấy cõi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm như: đất báu, ao báu, hàng cây báu. Trên cây có mành lưới chư Thiên che phủ, các lưới báu giăng khắp giữa hư không.
Khi thấy cảnh tượng được rõ ràng như nhìn vào bàn tay rồi lại tưởng 2 hoa sen lớn, một bên tả một bên hữu của Phật, cả hai đều giống như tòa sen trước. Xong lại tưởng đức Bồ Tát Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen bên tả, tưởng đức Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trên tòa sen bên hữu, thân tướng đều rực rỡ như sắc vàng diêm phù đàn. Phép quán nầy thành rồi lại tưởng thân tướng của Phật và Bồ tát đều phóng hào quang vàng, chiếu các cây báu. Nơi mỗi gốc cây đều có tượng Phật và hai vị Bồ tát ngồi trên tòa sen, như thế cho đến khắp cả cõi báu.
Quán như thế xong, hành giả lại tưởng tiếng nước chảy, ánh sáng, các cây báu, những loài chim như phù, nhạn, oan ương nói pháp mầu, cho đến khi xuất định, nhập định luôn được nghe thấy. Pháp mầu nầy dù cho khi xuất định, hành giả phải ghi nhớ đừng quên và cần phải hợp với kinh điển, nếu pháp không hợp với kinh điển gọi là vọng tưởng; như hợp thời gọi là tưởng thấy thế giới Cực Lạc về phần thô.
Đây là môn quán tưởng thứ 8. Tu thành quán tưởng nầy trừ diệt tội trong vô lượng ức kiếp sanh tử, ngay hiện đời hành giả tất chứng được niệm Phật tam muội. Quán được như thế gọi là Chánh quán, nếu tưởng sai khác là Tà quán.
Giảng yếu: Từ Phật bảo: Nầy A Nan và Vi Đề Hy! đến tất cả chúng sanh là dùng kết trước tiếp nối sau. Chư Phật vì lòng đại bi, tùy theo cầu mà hiện, đem đến cho mọi người nhiều lợi ích, nên khuyên phải chuyên tưởng.
Hỏi: Vi Đề Hy trước xin chỉ gặp Phật A Di Đà, không biết đức Phật lại chỉ chung cho các Như Lai là có ý gì?
Đáp: Muốn hiển bày ba thân của chư Phật đồng chứng, từ bi và trí huệ kết quả viên mãn, bình đẳng không hai, vững mình ngồi an, bóng hiện mười phương, ý muốn gặp kẻ có duyên, khi đến pháp giới. Nói pháp giới có ba nghĩa:
− Vì tâm trùm khắp nên hiểu rõ pháp giới.
− Thân trùm khắp nên hiểu rõ cả pháp giới.
− Không chướng ngại, nên hiểu rõ pháp giới.
Chính vì tất cả do tâm đến, nên thân cũng theo đó mà đến, thân theo tâm nên gọi là thân pháp giới. Nói pháp giới là cảnh sở hóa, tức cảnh chúng sanh. Nói thân là thân năng hóa, tức là thân chư Phật. Nói vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh là do chúng sanh khởi niệm, nguyện thấy chư Phật, Phật dùng trí tri vô ngại có thể hiện vào trong tâm tưởng người kia. Các hành giả hoặc trong tưởng niệm, hoặc trong mộng thấy Phật, chính là ý nghĩa nầy. Từ Cho nên đến từ nơi tâm tưởng mà sanh là tổng kết khuyên thật hành được lợi ích. Đây nói rõ về việc nêu tâm tưởng Phật, chỉ làm theo lời giải của Phật, quán từ đỉnh đến chân, tâm tưởng nhớ không bỏ, quán tưởng mỗi phần, không được đình chỉ. Hoặc tưởng tướng đảnh, hoặc tưởng lông trắng giữa chặn mày, cho đến dưới lòng bàn chân có tướng ngàn xoáy. Khi trụ quán tưởng nầy, Phật tượng trang nghiêm, tướng hảo đầy đủ hiện ra rõ ràng, nhờ do tâm duyên theo mỗi tướng, nên mỗi tướng đều hiện ra, tâm nếu không duyên tướng không thể thấy. Chỉ do tự tâm tưởng thành tựu, tượng Phật đều từ theo tâm mà hiện. Nên nói tâm nầy chính là 32 tướng. Nói 80 vẻ đẹp là khi tướng Phật đã hiện, thì các vẻ đẹp đều theo sau. Đây là nói rõ đức Như Lai dạy các tưởng đều đầy đủ các pháp quán. Nói tâm ấy làm Phật là chỉ tâm thường tưởng Phật, nên y theo tưởng mà thân Phật hiện ra tức là tâm Phật, lìa ngoài tâm ấy không có vị Phật nào khác.
Nói Chư Phật chánh biến tri là nói chư Phật được trí viên mãn không ngại, dù có tác ý hay không tác ý thường có tâm biết khắp pháp giới, chỉ cần thật hành pháp tưởng, tức Phật từ tâm tưởng của người ấy mà hiện, giống như còn sống vậy. Hoặc có hành giả đem nghĩa của môn nầy, thật hành pháp quán pháp thân duy thức, hoặc làm pháp quán Phật tự tánh thanh tịnh, việc ấy rất lầm lẫn vì tuyệt đối không có chút nào tương tợ. Đã nói tưởng hình tượng giả lập ra 32 tướng, đối với thân chơn như pháp giới, đâu có tướng mà có thể duyên, đâu có thân mà chấp lấy. Lại nữa, pháp thân không có sắc tượng tuyệt đối với nhãn căn, không có hình loại có thể dựa, nên tạm lấy hư không làm thể của pháp thân. Nay ở trong môn quán nầy, chỉ hướng lập ra tướng, trụ tâm giữ cảnh, nên không biết thế nào là vô tưởng hòa niệm. Đức Như Lai biết trước phàm phu trong thời mạt, tội chướng nặng nề, dù có lập tướng để trụ tâm còn không giữ được, hà huống là lìa tướng mà tìm sự, không khác gì người không biết huyễn thuật mà muốn xây nhà giữa hư không.
Từ Vì thế các ngươi phải một lòng hệ niệm đến rõ ràng như nhìn vào bàn tay là chỉ như lời dạy trước kia, chuyên chú sẽ thành, lần lượt dạy nhau khuyên quán Phật kia.
Nói tưởng hình tượng là định rõ cảnh sở quán và cuối cùng là tưởng quán thành thục.
Trong quán tưởng thành tựu gồm có bốn ý chính:
− Nói rõ bốn oai nghi ở thân, lúc mắt mở mắt nhắm, thấy một tượng bằng vàng như lúc nào cũng hiện trước mắt, phải thường khởi tưởng nầy.
− Nói đã thường quán tượng Phật, thì tượng Phật phải có chỗ ngồi, nên trước phải tưởng tòa hoa sen và tượng Phật ngồi trên tòa hoa sen ấy.
− Nói về khi tưởng đã thấy tượng ngồi rồi, thì tâm và mắt liền mở tỏ.
− Nói về tâm mắt đã mở tỏ, thấy tượng vàng và cõi Cực lạc kia với đầy đủ các thứ trang nghiêm ở trên đất và hư không rõ ràng không trở ngại. Lại quán pháp tượng trụ trong tâm như trước đã nói. Từ đảnh tưởng lần lượt đến chân, mặt, chân mày, bạch hào tướng, mắt, mũi, miệng, tai, hầu, cổ vai, tay chân, rồi từ đó hướng lên: tưởng hông, bụng, rún, âm, đùi, gối, bàn chân, mười ngón chân với ngàn xoáy, mỗi thứ tưởng rõ từ trên xuống dưới gọi là thuận quán, từ dưới chỗ bàn chân ngàn xoáy hướng lên gọi là nghịch quán. Nghịch và thuận đều trụ ở tâm, không lâu chắc được thành tựu. Nói về thân Phật và hoa tòa, đất báu cần phải trước sau quán chung, nhưng ở quán thứ 13 quán đất báu, tòa hoa, tượng vàng làm cốt yếu. Ở đây, nếu muốn dạy người, cần dạy theo pháp quán tưởng nầy, chỉ cần quán nầy được thành tựu các pháp quán khác tự nhiên rõ ràng.
Từ Khi thấy cảnh tướng được rõ ràng đến hết chỉ khi đã tưởng được thân tượng liền tưởng tới hai vị Bồ Tát. Đã thành tựu quán ba thân của Tam Thánh, có thể từ đó thành quán nhiều thân. Muốn quán hai Bồ tát, cứ y như quán tượng Phật là được. Khi quán được nhiều thân, sau đó sanh ra tướng thuyết pháp. Đây chỉ cho thấy, hành giả đi đứng ngồi nằm thường duyên theo tất cả cây báu, tất cả lầu báu và hoa sen ao báu ở nước kia. Hoặc lễ niệm, hoặc quán tưởng thường làm theo sự hiểu biết nầy. Pháp quán nầy nhờ tâm định mà thấy được cõi Cực lạc trang nghiêm. Nghe tất cả tiếng đều dùng diệu pháp để trang nghiêm. Hành giả đã được thấy và nghe rồi, thường gìn giữ đừng cho mất, gọi là giữ tâm định. Phần kế tiếp, phân biệt chánh tà, người được tam muội là người khắc kỳ cầu chứng tu quán mới được lợi ích hiện tại. Ở đây đức Phật thấy chúng sanh chướng nặng, quán Phật thật khó thành, nên rũ lòng thương dạy chú tâm ở hình tượng.
- Prev
- Next >>





