Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ Khóa V - Bài IX Phần Định Thiện Quán về Y Báo
- Details
- Category: Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ
Article Index
Từ đây về sau là phần chánh tông, tức là chỉ 16 pháp quán, trong mỗi pháp quán đều giải thích rõ. Tuy vậy, phần chánh tông, nhiều vị phân chia chẳng đồng, nhưng ở đây căn cứ vào pháp quán mà định. Từ Nhựt quán đến Hạ phẩm Hạ sanh, thuộc về phần chánh tông. Nhưng từ quán thứ nhứt đến quán thứ 13, là giải đáp lời cầu thỉnh Định thiện, là Tư duy và Chánh thọ. Từ quán thứ 14 đến hết quán thứ 16 là nói về Tán thiện, đó là do lòng đại bi của đức Thế Tôn muốn cứu vớt chúng sanh thời mạt pháp mà tự nói ra.
I. Quán về Y Báo
1. Quán mặt trời sắp lặn (Nhựt quán)
Kinh văn: Phật bảo: Vi Đề Hy! Ngươi và chúng sanh nên chuyên tâm buộc niệm một chỗ để tưởng cảnh giới phương Tây. Phương pháp quán tưởng như thế nào?
Phàm tất cả những người không phải là sanh manh (khi sanh ra đã bị mù), đều thấy mặt trời sắp lặn. Vậy hành giả nên ngồi ngay thẳng, xoay mặt về hướng Tây, tâm chăm chú một chỗ không được di động, rồi quán tưởng mặt trời sắp lặn hình như cái trống treo. Khi đã thấy hình tượng ấy rồi phải chú tưởng cho thuần thục, làm sao cho lúc mở cũng như lúc nhắm mắt đều thấy được rõ ràng. Đó là pháp quán đầu tiên gọi là Nhựt tưởng.
Quán được như thế đó gọi là Chánh quán, nếu tưởng sai khác đi gọi là Tà quán.
Giảng yếu: Từ Phật bảo: Vi Đề Hy! đến tưởng cảnh giới phương Tây, là chỉ dạy bảo và khuyên chung. Bà Vi Đề Hy, trước xin được thấy cõi nước của Phật A Di Đà, lại xin thật hành hạnh chánh thọ. Đức Như Lai lúc ấy đã hứa khả và chỉ dạy, nhưng vì cơ duyên chưa đủ, hạnh nguyện chưa tròn, nên phải mở bày nhơn tu ba phước, để cho những người chưa được nghe, đều có nhiều lợi ích. Đức Như Lai ân cần dạy bảo hai lần, khuyên phát khởi tâm, đem giáo pháp lưu truyền không cho đoạn tuyệt, vì pháp nầy khó nghe, cần có người hết lòng khai ngộ, chúng sanh mới nhận ra. Nói Phật bảo bà và chúng sanh là lời khuyên bảo, nếu muốn ra khỏi trần lao, cầu sanh về cõi Phật, cần phải hết lòng cố gắng, mới được thành công. Nói phải chuyên lòng nghĩ nhớ Tây phương, là bởi thấy chúng sanh tâm luôn luôn tán động, ý như vượn chuyền cây, tâm chạy theo sáu trần, không bao giờ dừng nghỉ. Chỉ vì cảnh duyên chẳng phải một, chạm mặt liền khởi vọng tưởng tham, sân, muốn an tâm nơi chánh định không sao an được, nếu tự mình không bỏ duyên, trụ cõi tịnh, tiếp nối chú tâm thẳng tới Tây phương, bỏ hết chín cõi. Vì thế, một thân, một tâm, một hồi hướng, một chỗ, một cảnh giới, một tương tục, một quy y, một chánh niệm, đây gọi là tưởng thành tựu được chánh thọ, đời nầy đời sau, tùy theo tâm mình muốn, liền được giải thoát.
Từ Thế nào là tưởng đến đều thấy mặt trời sắp lặn, là nói rõ cảnh sở quán. Tất cả chúng sanh từ lâu đã luân chuyển trong vòng sanh tử, không hiểu phương pháp an tâm, dù chỉ về Tây phương, cũng không biết tác ý thế nào, nên đức Như Lai đặt thành câu hỏi, để trừ hết nghi chấp, mới chỉ cho phương pháp giữ gìn chánh niệm. Phàm khi quán tưởng là chỉ chung, dụng ý trước hiển bày ý sau, dùng phương tiện để nhập quán. Nói tất cả chúng sanh, là chỉ cho các loài có tình thức. Nói nếu không phải kẻ sanh manh là đơn giản chỉ căn cơ, có thể kham nhận hay không kham nhận. Nói kẻ sanh manh là mù từ trong thai mẹ, vừa sanh là không thấy được vật gì. Người ấy không thể dạy tu Nhựt quán, vì không thấy mặt nhựt như thế nào. Trừ người mù bẩm sanh ra, người gặp duyên tai họa, dạy cho nhựt quán, đều được thành tựu, vì khi mắt chưa bị hỏng, có thể thấy tướng ánh sáng của mặt trời, tuy bị đau mắt, cũng dạy cho nhớ tướng mặt trời lặn, chánh niệm kiên cố, không hạn thời tiết, chắc được thành tựu.
Hỏi: Bà Vi Đề Hy cầu xin thấy được cảnh Cực Lạc, và đức Như Lai đã hứa, nay trước dạy trụ tâm quán mặt nhựt, là có ý gì?
Đáp: Đây có ba ý:
- Thứ nhứt: Muốn cho chúng sanh biết cảnh trụ tâm, chỉ rõ ràng phương hướng, không lấy hai thời đông hạ, chỉ giữ hai phía xuân thu. Mặt nhựt mọc từ hướng chánh đông, lặn về hướng chánh tây, cõi Phật A Di Đà ở đúng hướng mặt trời lặn, theo hướng tây, vượt qua hơn mười muôn ức cõi Phật, chính là nơi đó.
- Thứ hai: Làm cho chúng sanh tự biết nghiệp chướng của mình có nặng nhẹ. Làm sao được biết? Do dạy trụ tâm quán mặt trời, trước khi muốn trụ tâm, dạy phải ngồi kiết già ngay thẳng, chân phải đặt lên chân trái, chân trái tréo lên chân phải, hai gót song song với rún, tay phải đặt trên tay trái, giữ cho thân ngay thẳng, miệng ngậm, lưỡi chạm ở nướu răng trên, làm cho yết hầu và đường mũi thở vào ra thông nhau. Lại dạy quán thân tứ đại trong ngoài đều không, không có một vật. Địa đại của thân, da thịt gân xương, tâm tưởng tan về phương Tây, suốt mé bờ Tây phương, không còn thấy tướng một hạt bụi. Lại tưởng thủy đại của thân như máu, mồ hôi, dung dịch, nước mắt, tâm tưởng tan biến ở phương Bắc, cuối bờ mé phương Bắc không còn thấy tướng một hạt bụi. Lại tưởng phong đại của thân, tan biến ở phương Đông, suốt bờ mé phương Đông, không còn thấy tướng một hạt bụi. Lại tưởng hỏa đại của thân, tan về phương Nam, suốt bờ mé của phương Nam, không còn thấy tướng một hạt bụi. Lại tưởng không đại của thân cùng hợp nhất với hư không mười phương, cho đến không còn thấy tướng chẳng không bằng hạt bụi.
Chỉ có thức đại, lặng lẽ ngưng trụ, cũng như một tấm gương tròn soi mặt, trong ngoài chiếu sáng, rộng rãi thanh tịnh. Khi quán tưởng như thế rồi, loạn tưởng được trừ, tâm tạm ngưng lặng. Rồi sau từ từ chuyển tâm quán chắc nơi mặt trời. Người lợi căn, chỉ cần ngồi một lần, liền thấy tướng sáng hiện tiền, trong lúc cảnh hiện ra, hoặc giống như đồng tiền lớn, hoặc giống như tấm gương lớn, ở trong chỗ sáng ấy, liền thấy được tướng nghiệp chướng nặng nhẹ. Có ba tướng cần phải chú ý:
− Hắc chướng: Giống như luồng mây đen che mặt trời.
− Huỳnh chướng: Giống như áng mây vàng che mặt trời.
− Bạch chướng: Giống như áng mây trắng che mặt trời. Mặt trời bị mây che phủ, nên không được chiếu sáng tỏ rõ. Nghiệp chướng chúng sanh cũng như vậy. Nghiệp chướng che lấp tâm tịnh, làm trở ngại, nên tâm không chiếu sáng được. Hành giả nếu thấy tướng nầy, liền phải sửa sang đạo tràng, yên đặt tượng Phật, tắm rửa sạch sẽ, mặc áo sạch, đốt hương, dâng hoa, kính bạch chư Phật và tất cả thánh hiền, hướng về hình tượng Phật, hiện tại trọn đời sám hối tội cấu từ vô thỉ đến nay, những nghiệp do thân, khẩu, ý tạo ra, các tội như thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, báng pháp, xiển đề thật rầu buồn khóc than rơi lệ, xấu hổ tận đáy lòng, khắc cốt tự trách.
Sám hối rồi lại tịnh tọa, an tâm giữ cảnh, cảnh nếu hiện ra, thời ba cảnh chướng trước trừ sạch, cảnh quán trong sạch sáng rỡ, gọi là mau diệt được tội chướng. Nếu một lần sám mà sạch hết, gọi là bậc lợi căn. Hoặc một lần sám hối, chỉ trừ được hắc chướng, hoặc một lần sám hối, trừ được hai chướng huỳnh và bạch, hoặc một lần sám, chỉ trừ được bạch chướng, đây chỉ gọi là tạm trừ chứ chưa dứt sạch. Người đã biết được nghiệp chướng như vậy rồi, cần phải siêng năng, chuyên tâm sám hối, ngày đêm ba thời, sáu thời. Người chỉ nhớ có lỗi là sám liền, là người thượng căn và thượng hạnh, như bị lửa đốt thân, vừa biết tức lánh xa, đâu phải dễ ngươi, đợi nước đến chân làm sao nhảy kịp.
- Thứ ba: Muốn cho chúng sanh hiểu biết y báo và chánh báo của Phật A Di Đà, các thứ trang nghiêm, các thứ ánh sáng, trong ngoài chiếu sáng, vượt hơn mặt nhựt ở đây trăm ngàn muôn ức lần. Hành giả nếu không biết tướng ánh sáng của cõi kia, phải xem tướng ánh sáng của mặt nhựt ở cõi nầy, hoặc đi, đứng, ngồi, nằm, lễ niệm, nhớ tưởng, thường thật hiện sự hiểu biết nầy, trong thời gian không lâu, liền được tâm định, thấy được mọi việc ở cõi Tịnh độ kia, vui mừng trang nghiêm. Vì nghĩa ấy, nên đức Thế Tôn dạy thật hành quán tưởng mặt trời.
Từ Phải sanh lòng tưởng niệm đến hình như trống treo là dạy cách quán sát. Thân ngồi ngay ngắn, đầy đủ oai nghi, mặt hướng phương Tây, giữ cảnh trụ tâm, chắc chắn không dời đổi, chỉ một thời gian là có cảm ứng.
Từ Đã thấy mặt trời lặn rồi đến đều thấy được rõ ràng là nói tướng quán thành tựu. Đây chỉ rõ việc từ tâm thấy mặt trời, giữ tưởng trừ duyên, mỗi niệm không dời đổi, thì tướng tịnh sẽ hiện ra rõ ràng. Lại nữa, hành giả khi vừa ở trong định, thấy được mặt trời nầy, liền được cái vui chánh định, thân tâm trong ngoài được pháp hỷ, không thể nghĩ bàn. Đương lúc được pháp hỷ nầy, cần phải nhiếp tâm ở trong định, không được khởi lòng tham muốn giữ lấy. Nếu khởi lòng tham, thì tâm thủy sẽ động, vì tâm thủy động, nên cảnh tịnh liền mất. Hoặc khi động, hoặc tối, hoặc đen, hoặc xanh, vàng, đỏ, trắng, các thứ màu sắc đều không được an định. Khi thấy việc ấy rồi, liền tự nghĩ rằng: Các cảnh tướng nầy lay động chẳng yên, do ta có lòng tham nên động niệm, đến nỗi cảnh tịnh phải mất, liền tự mình an tâm chánh niệm, từ đầu phát khởi lại, tướng động liền trừ, tâm tịnh lại hiện. Đã biết lỗi nầy không được khởi thêm lòng tham một lần nào nữa. Từ đây về sau, đối với các pháp quán có được và mất cũng đồng như đây. Quán mặt trời, thấy rõ được mặt trời, là tâm và cảnh phù hợp, gọi là chánh quán. Nếu quán mặt trời mà không thấy mặt trời, lại thấy những cảnh tạp, thì tâm và cảnh không tương ưng, gọi là tà quán. Đây cho biết cõi Ta bà là nhà tối, sự việc không thể so sánh được ở phương kia, chỉ có mặt nhựt tỏa ánh sáng muôn màu, nhờ đó mà tưởng được sự rực rỡ ở cõi Cực Lạc.
Từ Đó là pháp quán đầu tiên đến nhựt tưởng, là lời tổng kết của pháp tu quán mặt trời lặn.
- Prev
- Next >>





