Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ - Khóa IV - Bài VI Chánh Quyết Niệm Phật
- Details
- Category: Nghiên Cứu Giáo Lý Tịnh Độ
Article Index
Page 1 of 4
Bài VI - VÃNG SANH CHÁNH QUYẾT NIỆM PHẬT
Vấn đề vãng sanh Tịnh Độ chép đủ trong các kinh rõ ràng như mặt nhật giữa trưa. Người tu hành vào đạo đúng pháp là niệm mà không niệm chính là niệm Phật A Di Đà; Sanh mà vô sanh là sanh về nơi Tịnh Độ. Cho nên, người thực hành Bồ Tát, các bậc đạo sư mô phạm, các bậc công khanh, cự nho, thứ dân, tín nữ tin sâu pháp môn Tịnh Độ, phát nguyện tấn tu số nhiều không thể kể hết.
Người muốn sanh Tịnh Độ thấy Phật A Di Đà phải biết rằng Phật vốn không thân, cũng không có Tịnh Độ đều do tâm tịnh của chung sanh mà có cảm. Trong kinh cũng dạy: “Tâm ấy làm Phật tâm ấy là Phật. Chư Phật trong biển chánh biến tri đều từ tâm tưởng mà sanh.” Thiên Thai Đại Sư nói: “Phật vốn không có tâm tịnh sở dĩ có là vì tâm chúng sanh tịnh thì pháp thể hiện tiền. Tâm chúng nhiễm thì luân chuyển trong đường khổ. Đây là lẽ thường dĩ nhiên đâu có gì đáng nghi, vì trong giáo lý viên thật đã nói rõ là tâm chúng ta vẫn có đủ, hoặc đây kia, hoặc nhiễm tịnh đều không ra ngoài nhất niệm của tâm ta.
Phàm tâm là gốc tạo tội mà cũng là căn bản thành Phật. Cho nên nói: Cái gì có tâm thì ba ngàn Pháp đầy đủ. Nếu ba ngàn Pháp đầy đủ thì mười cõi, mười như, ba thứ thế gian đều hiển bày đầy đủ, thì quốc độ An dưỡng bỏ tâm này thì tìm đâu có, nên nói Tịnh Độ từ tâm, địa ngục cũng từ tâm. Vì thế, y chánh ngục A Tỳ toàn ở trong tự tâm của bậc cực Thánh, thân và cõi của đức Tỳ Lư không ngoài một niệm của kẻ hạ Phàm. Vừa khởi cái chấp ngộ mê liền vào dòng tà, không biết chỗ khác nhau của nhiễm và tịnh làm sao trở về chánh đạo. Núi đao cây kiếm vốn thực hoa đốm giữa hư không. Ao báu sen vàng đều là việc mộng, thọ dụng như thế mới hiểu rõ chơn tu. Nếu chưa được như trên phải y theo quyền, tiệm tu tiến. Tin chắc Phật A Di Đà là bản tánh của chính ta, quí ở chỗ lễ tụng, sám niệm, lúc đi đứng ngồi nằm mọi nơi phải dùng ba quán chiếu vào một tâm, toàn trí, khởi phát ra cảnh, toàn cảnh là tâm. Nên biết y báo và chánh báo của Phật đều do tâm có sẵn đầy đủ (tâm cụ), tâm tạo ra vạn pháp (tâm tạo). Tin được như vậy thì Tịnh Độ và Phật Di Đà ánh hiện rõ ràng trong tâm mắt. Ví như, người ra công mài đồng thành gương, gương sạch không có bụi nhỏ thì bản thể tròn sáng tự nhiên hiện bày, tất cả màu sắc, hình tượng đều hiện rõ. Nên biết, ảnh tượng trong gương nếu nói là có thì không thể thừa nhận, nếu nói là không thì sắc tượng hiện rõ ràng, có thể thấy. Nên nói: Có không định là có, không chẳng định là không, có không cùng điều khiển, tự do hoạt động, tự do hoạt động gọi là trung, con đường diệu quán của cảnh giới Duy tâm thật không thể nghĩ bàn.
Muốn vào con đường này cần phải hiểu rõ nhân quả, nên biết pháp môn này là nhân gồm bể quả, quả suốt nguồn nhơn. Nguyên từ buổi ban đầu nếu không lìa nhất niệm từ nhân đến quả chỉ ở sơ tâm, nếu ở chỗ này, khéo từ cái nhân như thế, đến khi lâm chung chắc được kết quả như thế. Nên biết, chuyên tâm niệm Phật là nhơn, vãng sanh Tịnh Độ là quả. Trước từ nghe mà khởi lòng tin, có lòng tin dùng để tu trì, chứa công phu tịnh nghiệp, được thành mãn công duyên, thời tiết đã đến ngộ lý rõ ràng, xem việc chết như về nhà, đâu chẳng vui mừng. Vì thế ở đây chỉ chánh quyết vãng sanh, chỉ rõ con đường về nhà. Nếu hành giả lúc ấy tin chắc không nghi, con đường sẵn trước mặt không còn nhầm lẫn. Được như thế thì quốc độ An dưỡng lo gì chẳng được sanh, tự tánh Di Đà rõ ràng có thể thấy. Vì thế, các bậc Thánh hiền đồng thành tịnh hạnh, Liệt vị cao túc đều do con đường này mà trở về nhà.
Việc lâm chung vãng sanh Tịnh Độ, người niệm Phật tin rằng khi phát tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ trong ao sen liền có một mầm sen gieo xuống. Nếu hành giả một lòng niệm Phật các thiện trang nghiêm, khi hoa sen lên khỏi mặt nước thì niệm Phật công đức đã thành, duyên về Tịnh Độ đã thành thục thì hoa nở thấy Phật. Phật tử thờ Phật trước phải thờ phụng song thân, hiếu thuận luôn nhớ trong lòng không giây phút nào rời. Lúc nào cũng sớm thăm tối viếng, xem nhan sắc cha mẹ để biết rõ tâm tư hết lòng hiếu dưỡng. Phải nhớ mưa gió chẳng thường, ngày tháng qua mau, dự bị vãng sanh khi cha mẹ sắp quá vãng. Khi cha mẹ sáp quá vãng, người con cần phải ghi tất cả những duyên lành, việc tốt, và mọi người trợ niệm có thể đem công việc thiện đã làm ghi vào tờ giấy, đối diện người bệnh đọc lên làm cho cha mẹ nhớ lại sanh tâm hoan hỷ. Đồng thời cũng khuyên cha mẹ niệm Phật lúc đi đứng ngồi nằm đều hướng về Tây, đừng quên Tịnh Độ.
Lập một bàn Phật thờ Đức Phật A Di Đà, khuyên người bệnh phải nhất tâm niệm Phật. Gia quyến cần phải cung thỉnh các bạn đạo cùng nhau hộ niệm, luân phiên niệm Phật, tiếng Phật tiếp nối không dứt. Không xuôi theo thế tình buồn than khóc lóc làm người bệnh mất chánh niệm. Trong lúc người bệnh sắp bỏ báo thân, nếu lòng giữ chánh niệm, tự nhiên Chư Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn vãng sanh về Tịnh Độ, ở trong hoa sen báu hóa sanh, chắc được thành Phật. Người con hiếu thảo hầu hạ cha mẹ quan trọng nhất là thời gian này, không được trể nãi. Đây là một việc lớn của người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, được gọi là chí hiếu.
Từ Chiếu Tông Chủ trong Tịnh Độ Thập Môn Giáo Giới có nói: “Người niệm Phật khi lâm chung có ba điều nghi và bốn cửa ải. Thế nào là ba điều nghi không được sanh Tịnh Độ? 1- Nghi ta đời trước tạo nghiệp rất nhiều, đời này tu hành chẳng được mấy ngày e không được vãng sanh. 2- Nghi ta có nhiều oan gia, có tâm nguyện chưa toại và tham sân si chưa dứt e không được vãng sanh. 3- Nghi ta tuy niệm Phật A Di Đà nhưng khi lâm chung e Phật không đến tiếp dẫn. Người có ba nghi này, do nghi thành chướng mất chánh niệm không được vãng sanh. Người niệm Phật cốt yếu phải tin chắc lời Phật dạy, hiểu rõ ý chỉ đừng sanh lòng nghi. Kinh dạy: “Niệm hiệu Phật Di Đà một tiếng diệt được tám mươi ức kiếp tội trong sanh tử, trên đến một lòng chẳng loạn dưới đến mười niệm thành công, hướng về chín phẩm sen vàng, xa lìa cõi đời ngũ trược. Nếu mỗi tâm chẳng mê muội, mỗi niệm chẳng sai thì nghi tình chấm dứt quyết định vãng sanh. Có thể nói:
Móng tay vừa khảy mười muôn đến
Sợi tơ nghi hoặc cách muôn trùng.
Muốn vào con đường này cần phải hiểu rõ nhân quả, nên biết pháp môn này là nhân gồm bể quả, quả suốt nguồn nhơn. Nguyên từ buổi ban đầu nếu không lìa nhất niệm từ nhân đến quả chỉ ở sơ tâm, nếu ở chỗ này, khéo từ cái nhân như thế, đến khi lâm chung chắc được kết quả như thế. Nên biết, chuyên tâm niệm Phật là nhơn, vãng sanh Tịnh Độ là quả. Trước từ nghe mà khởi lòng tin, có lòng tin dùng để tu trì, chứa công phu tịnh nghiệp, được thành mãn công duyên, thời tiết đã đến ngộ lý rõ ràng, xem việc chết như về nhà, đâu chẳng vui mừng. Vì thế ở đây chỉ chánh quyết vãng sanh, chỉ rõ con đường về nhà. Nếu hành giả lúc ấy tin chắc không nghi, con đường sẵn trước mặt không còn nhầm lẫn. Được như thế thì quốc độ An dưỡng lo gì chẳng được sanh, tự tánh Di Đà rõ ràng có thể thấy. Vì thế, các bậc Thánh hiền đồng thành tịnh hạnh, Liệt vị cao túc đều do con đường này mà trở về nhà.
Việc lâm chung vãng sanh Tịnh Độ, người niệm Phật tin rằng khi phát tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ trong ao sen liền có một mầm sen gieo xuống. Nếu hành giả một lòng niệm Phật các thiện trang nghiêm, khi hoa sen lên khỏi mặt nước thì niệm Phật công đức đã thành, duyên về Tịnh Độ đã thành thục thì hoa nở thấy Phật. Phật tử thờ Phật trước phải thờ phụng song thân, hiếu thuận luôn nhớ trong lòng không giây phút nào rời. Lúc nào cũng sớm thăm tối viếng, xem nhan sắc cha mẹ để biết rõ tâm tư hết lòng hiếu dưỡng. Phải nhớ mưa gió chẳng thường, ngày tháng qua mau, dự bị vãng sanh khi cha mẹ sắp quá vãng. Khi cha mẹ sáp quá vãng, người con cần phải ghi tất cả những duyên lành, việc tốt, và mọi người trợ niệm có thể đem công việc thiện đã làm ghi vào tờ giấy, đối diện người bệnh đọc lên làm cho cha mẹ nhớ lại sanh tâm hoan hỷ. Đồng thời cũng khuyên cha mẹ niệm Phật lúc đi đứng ngồi nằm đều hướng về Tây, đừng quên Tịnh Độ.
Lập một bàn Phật thờ Đức Phật A Di Đà, khuyên người bệnh phải nhất tâm niệm Phật. Gia quyến cần phải cung thỉnh các bạn đạo cùng nhau hộ niệm, luân phiên niệm Phật, tiếng Phật tiếp nối không dứt. Không xuôi theo thế tình buồn than khóc lóc làm người bệnh mất chánh niệm. Trong lúc người bệnh sắp bỏ báo thân, nếu lòng giữ chánh niệm, tự nhiên Chư Phật Bồ Tát đến tiếp dẫn vãng sanh về Tịnh Độ, ở trong hoa sen báu hóa sanh, chắc được thành Phật. Người con hiếu thảo hầu hạ cha mẹ quan trọng nhất là thời gian này, không được trể nãi. Đây là một việc lớn của người con hiếu phụng dưỡng cha mẹ, được gọi là chí hiếu.
Từ Chiếu Tông Chủ trong Tịnh Độ Thập Môn Giáo Giới có nói: “Người niệm Phật khi lâm chung có ba điều nghi và bốn cửa ải. Thế nào là ba điều nghi không được sanh Tịnh Độ? 1- Nghi ta đời trước tạo nghiệp rất nhiều, đời này tu hành chẳng được mấy ngày e không được vãng sanh. 2- Nghi ta có nhiều oan gia, có tâm nguyện chưa toại và tham sân si chưa dứt e không được vãng sanh. 3- Nghi ta tuy niệm Phật A Di Đà nhưng khi lâm chung e Phật không đến tiếp dẫn. Người có ba nghi này, do nghi thành chướng mất chánh niệm không được vãng sanh. Người niệm Phật cốt yếu phải tin chắc lời Phật dạy, hiểu rõ ý chỉ đừng sanh lòng nghi. Kinh dạy: “Niệm hiệu Phật Di Đà một tiếng diệt được tám mươi ức kiếp tội trong sanh tử, trên đến một lòng chẳng loạn dưới đến mười niệm thành công, hướng về chín phẩm sen vàng, xa lìa cõi đời ngũ trược. Nếu mỗi tâm chẳng mê muội, mỗi niệm chẳng sai thì nghi tình chấm dứt quyết định vãng sanh. Có thể nói:
Móng tay vừa khảy mười muôn đến
Sợi tơ nghi hoặc cách muôn trùng.





