Báo điện tử Phật giáo online

Phật ngồi trên lưng vua: Pho tượng chỉ có ở Việt Nam

Article Index

GiadinhNet - Theo lời kể của nhà sư Thích Tâm Hoan tại chùa Hòe Nhai (Hà Nội), pho tượng này là kết quả của một cuộc pháp nạn của các tăng ni Phật giáo Việt Nam năm 1678.

Sự giáo hóa của vị Tổ Cua


Vào khoảng thời gian đó, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo, thay vào đó là Nho giáo. đến thời vua Lê Hy Tông (1663-1716), một sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng được ban ra. Ai không đi sẽ bị trừng trị nặng nề.

Pho tượng độc đáo đã được ghi vào kỷ lục Guiness

 

Đạo Phật đã phải trải qua một thời kỳ nhọc nhằn. Một trong số những hòa thượng đắc đạo pháp danh Tông Diễn, được biết đến với tên Tổ Cua, Tổ Cáy cũng bị buộc phải đi qua con đường hoặc sinh hoặc tử này. Ông là thế hệ thứ hai của phái Tào Động tại Việt Nam. Đây là một tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc, được hai vị Thiền sư sáng lập là Động Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch lập nên. Người ta ghép hai chữ đầu tên hai vị này và gọi phái là Tào Động. Mặc dù mục đích tu tập của Tào Động giống với một phái khác tên là Lâm Tế, tuy nhiên phương pháp tu tập thể thì có khác biệt. Tào Động tông chú trọng đến phương pháp mặc chiếu thiền, tức là chỉ an nhiên là đủ. Lâm Tế tông chủ trương phương pháp khán toại thiền, là quán công án. Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật tông là Đạo Nguyên Hi Huyền đưa tông này qua Nhật Bản và Tào Động trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Động tại Nhật Bản, phương pháp Độc tham - một trong những thành phần tu học quan trọng của Thiền tông - đã thất truyền từ thời Minh Trị.

 

Thiền Tào Động được Thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17. Nhà sư này rời Đại Việt năm 1664, cùng với hai đệ tử sang Trung Quốc, đến Hồ Châu học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và ở đó ba năm sau mới về. Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn. Vị hòa thượng Tông Diễn không những đã làm tốt công việc của thầy truyền lại mà còn khiến Tào Động phát triển rực rỡ, giúp tăng chúng vượt qua được pháp nạn lớn của Phật giáo, khi mà Phật giáo không còn được trân trọng như khi còn là quốc giáo nữa.

Khi tăng chúng phải chịu sắc lệnh rời chùa lên rừng, hòa thượng Tông Diễn vì không cam lòng thấy tăng chúng phải trải qua pháp nạn quá nặng nề đó, đã tìm cách trở lại kinh thành Thăng Long, nhằm giáo hóa vua Lê Hy Tông.

Theo nhà sư Tâm Hoan, cuộc gặp gỡ giữa hòa thượng Tông Diễn và vua Lê Hy Tông quả là khó khăn. Việc một vị sư đã bị trục xuất khỏi kinh thành tìm cách để trở lại đã khó, gặp vua lại muôn vàn khó khăn. Cuối cùng Hòa thượng Tông Diễn đã phải dùng một biện pháp, ông tặng nhà vua chiếc hộp, trong đó nói có viên ngọc quý. Tuy nhiên thực chất trong hộp chỉ có một tờ biểu ghi lại những điều lợi mà Phật giáo mang lại cho xã hội. “đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội...”, tờ biểu phân tích.

Vua Hy Tông bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện. Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh đã ban. Vua Hy Tông từ đấy hết sức sửa mình, tự nguyện đề nghị với hòa thượng Tông Diễn rằng nên làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối và sửa mình của ngài. Đây là bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam, mang tích cách Việt và lịch sử Việt, không có nơi nào trên thế giới có một mã văn hóa như thế này.