Tiếng Việt - Hồn Việt
- Details
- Parent Category: Thư Liệu Theo Tháng
- Category: 2010-02
- Published on Wednesday, 03 February 2010 21:41
- Written by Lê Thương
Article Index
Văn Hóa - Nghệ Thuật
1. TIẾNG VIỆT - HỒN VIỆT
Như ta đã thấy, nhiều nước trên thế giới phải vay mượn ngôn ngữ của quốc gia khác để làm tiếng nói cho dân tộc mình trong khi đó Tiếng Việt ta có một giá trị độc đáo là ngôn ngữ thống nhất...có 80 triệu người nói thuần túy Tiếng Việt như là ngôn ngữ chính. Điều hãnh diện nữa là Tiếng Việt được các nhà ngôn ngữ học xếp vào một trong 40 ngôn ngữ quan trọng trên thế giới.
Ưu điểm khác là Tiếng Việt được viết theo vần ABC, không kém gì ngôn ngữ của các quốc gia tân tiến hiện nay. Ta lại đặc biệt sáng chế ra năm dấu Sắc, Huyền, Hỏi, Ngã, Nặng để viết được tất cả Tiếng Việt theo âm điệu trầm bổng của một ngôn ngữ đơn âm. Không những phong phú mà Tiếng Việt còn có âm điệu uyển chuyển nên thơ văn dễ phát triển, nói lên được tất cả những cảnh vật muôn hình vạn trạng, tình tiết éo le, tạo được một kho tàng văn chương giàu mạnh với nhiều tác phẩm tuyệt vời như Đoạn Trường Tân Thanh, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Lục Vân Tiên...
Khi xưa ta dùng chữ Hán của người Trung Hoa, về sau các cụ ta có sáng kiến dùng Chữ Nôm để có thể viết các tác phẩm bằng Việt Văn cho đến khi ta phát minh ra Chữ Quốc Ngữ.
Nói về Chữ Nôm, từ thế kỷ thứ 13, Hàn Thuyên là người đã dùng Chữ Nôm đầu tiên để làm thơ văn bằng Việt Ngữ. Rồi từ đấy Văn Nôm ngày càng phát triển và từ thế kỷ thứ 15 đến thế kỷ thứ 18 là thời kỳ cực thịnh của Chữ Nôm. Trong khoảng thời gian nầy ta có các tác phẩm bằng Chữ Nôm như Quốc Âm Thi Tập và Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi, rồi đến các truyện như Chiêu Quân Cống Hồ, truyện Trinh Thử. Còn Thơ Nôm thì có các tác giả như Hồ Quý Ly, Nguyễn Biểu, vua Lê Thánh Tôn với Viện Hàn Lâm Tao Đàn; Nguyễn Bỉnh Khiêm với Bạch Vân Quốc Ngữ Thi. Sau đó đến thời kỳ toàn thịnh của Văn Nôm với Đào Duy Từ, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ, bà Đòan Thị Điểm với bản dịch Chinh Phụ Ngâm; Nguyễn Gia Thiều với Cung Oán Ngâm Khúc; Nguyễn Huy Tự với Hoa Tiên Truyện và Nguyễn Du với tác phẩm bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh. Rồi đến thế kỷ thứ 19, còn được gọi là cận kim thời đại, với những danh sĩ Thơ Nôm như Nguyễn Văn Thành nổi tiếng với bài Tế Trận Vong Tướng Sĩ; Nguyễn Đình Chiểu với Lục Vân Tiên cùng Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương và bà Huyện Thanh Quan.
Như đã đề cập ở trên, Chữ Nôm phỏng theo Chữ Hán là một sáng kiến để viết các tác phẩm bằng Việt Văn cho đến khi có Chữ Quốc Ngữ. Sau khi được phát minh, Chữ Quốc Ngữ đã chứng tỏ là một phương tiện hữu dụng trong việc phổ biến văn học, nghệ thuật, chính trị, khoa học, kỹ thuật v...v... Chữ Quốc Ngữ còn có ưu điểm là dễ dàng đi vào quảng đại quần chúng vì nó giản dị, dễ nhớ, học mau và biết viết mau. Ngoài ra. Chữ Quốc Ngữ được phát triển mạnh là nhờ ở các phong trào truyền bá Quốc Ngữ cũng như các học giả, các nhà báo nhà văn, nhà thơ đua nhau sáng tác không ngừng.
Văn chương Tiếng Việt có rất nhiều nét đặc thù, trong khuôn khổ bài nầy, chúng tôi chỉ xin đề cập đến hai trong những nét đặc thù đó là Thuật Ghép Chữ và Chính Tả.
Tiếng Việt là tiếng đơn âm, nếu dùng toàn tiếng một thì sẽ rất nghèo nàn vì thế các cụ ta và các học giả đã nghĩ ra cách ghép chữ cho Tiếng Việt được thêm phong phú.
Tiếng Việt có nhiều cách ghép chữ như:
Ghép Chữ Nho: Phần lớn các chữ ghép của ta do hai Chữ Nho ghép lại, thường được gọi là Tiếng Hán Việt và ta dùng quen thành Tiếng Việt thông dụng như: độc lập, tự do, dân chủ, hòa bình, trí thức, bô lão, thi văn, thế lực...
Tài tình nhất là những chữ kép hoàn toàn ghép bằng hai Tiếng Việt thuần túy. Lối nầy có nhiều cách như:
Ghép hai chữ mà đứng riêng ra thì không có nghĩa, ví dụ: bâng khuâng, sỗ sàng, sặc sụa, sững sờ, tầm tã, thỉnh thoảng, xập xệ...
Ghép một chữ phụ với một chữ có nghĩa để làm mạnh ý: bực tức, cực khổ, cứng rắn, ồn ào, tan tác, thương yêu, xấu hổ, yếu hèn...
Ghép một chữ với một chữ khác để làm nhẹ bớt ý: cồm cộm, cong cong, đo đỏ, khen khét, mằn mặn, nhè nhẹ, trăng trắng...
Đặc biệt nữa là một chữ đem ghép với nhiều chữ khác để hàm ý nghĩa thật mạnh, như chữ Trắng thì có: trắng bạch, trắng bệch, trắng bóng, trắng dã, trắng hếu, trắng mởn, trắng muốt, trắng mướt, trắng nõn, trắng ngà, trắng ngần, trắng phau, trắng tinh, trắng toát, trắng trẻo, trắng xóa...
Còn chữ Đỏ thì ta có: Đỏ au, đỏ chét, đỏ choét, đỏ chói, đỏ gay, đỏ lòm, đỏ rực, đỏ tươi, đỏ thắm và Vắng thì ta có: Vắng bặt, vắng lạnh, vắng ngắt, vắng tanh, vắng teo, vắng vẻ...
- Prev
- Next >>



