|
Page 1 of 3 Chúng ta phải tin chắc rằng cõi Ta Bà thực là khổ, cõi Cực Lạc thực là vui. Cái khổ của Ta Bà có vô lượng vô biên tóm lại không ngoài tám khổ: sanh, già, bệnh, chết, thương yêu mà chia lìa, giận nhau mà luôn gặp mặt, cầu không được và năm ấm xí thạnh. Tám khổ này từ kẻ cao sang quyền quý đến kẻ nghèo hèn đều có đủ. Bảy cái khổ trước do cái quả mê lầm từ quá khứ, chúng ta chỉ cần suy nghĩ kỹ là có thể hiểu rõ, chỉ có khổ thứ tám cần đề cập đến. Các động tác và việc khởi tâm động niệm ở hiện tại là cái nguyên nhân thọ khổ ở tương lai.
Nhân quả nối tiếp không dứt từ kiếp này đến kiếp khác. Năm ấm là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc là nghiệp báo của thân. Thọ, Tưởng, Hành, Thức, là độc cảnh khởi ra huyễn vọng của Tâm. Các pháp huyễn vọng của thân và tâm tiếp xúc với sáu trần tạo ra tội nghiệp như lửa hừng hực cháy không thể nào ra khỏi, nên gọi là xí thạnh. Ấm: nghĩa là ngăn che vì năm ấm này ngăn che làm chơn tánh không thể hiển lộ, như mây đen che mặt trời không thể chiếu sáng. Người phàm chưa đoạn được hoặc nghiệp luôn luôn bị năm ấm ngăn che làm cho chơn tánh không thể nào hiển lộ. Tám khổ này là nguồn gốc các khổ, người tu Thiền định phải có đạo lực cao siêu ở cảnh giới lục trần không lòng chấp trước, thương ghét, từ đó cố gắng tu tiến để lần chứng quả vô sanh, hoặc nghiệp dứt sạch mới thoát được sanh tử, công phu ấy không phải dễ.
Người tu Tịnh nghiệp cầu sanh Cực Lạc là nhờ vào sức từ bi của Phật mà được vãng sanh. Khi đã vãng sanh: liên hoa hóa sanh không có khổ về Sanh. Tất cả đều là đồng nam sống lâu đồng với hư không (không già), không hề có tai biến, các tên Già, Bệnh, Chết, còn chưa được nghe làm sao có thật. Bạn là Bồ tát, tạng mắt thấy Phật A Di Đà, cây nước chim rừng đều theo căn tánh của mình mà thuyết pháp. Muốn ăn có ăn, muốn mặc có mặc. Đường xá nhà cửa đều do bảy báu làm thành. Tất cả đều do sức Phật làm ra. Vì thế bảy khổ ở Ta Bà trở thành bảy vui Cực Lạc. Lúc ấy chính mình có đại thần thông, đại oai lực, không cần đi xa chỉ trong một niệm hoạt động trong khắp mười phương. Trên thành Phật quả dưới cứu độ chúng sanh có đại trí huệ, đại biện tài. Ở trong một pháp hiểu tất cả thật tướng của các pháp. Tùy theo căn cơ thí pháp không hề nhầm lẫn. Tuy nói nghĩa thế đế nhưng đều hợp với lý mầu nhiệm thật tướng. Bỏ được cái khổ ngũ ấm chứng được cái vui tịch tịnh. Vì thế kinh có dạy: "cõi ấy không có các khổ chỉ nhận toàn các điều vui nên gọi là Cực Lạc". Cái khổ cõi Ta Bà, khổ không thể kể xiết, cái vui Cực Lạc không có gì để thí dụ. Đó là sự thực chính lời Phật nói ra, chúng ta không còn nghi ngại gì nữa. Có những kẻ ngoại đạo phàm phu cho rằng cõi Tịnh mọi thứ đều không thể nghĩ bàn là những ngụ ngôn thí dụ tâm pháp không phải cảnh thật. Đó là những tà kiến làm mất đi cái lợi ích vãng sanh về Tịnh Độ, có hại rất lớn, chúng ta cần phải đề phòng.
Đức Phật A Di Đà vì chúng ta mà phát đại nguyện, lập hạnh hóa độ. Ngài nhiều kiếp đã làm chúng sanh và từ tín, hành, nguyện mà được thành Phật. Nên biết Phật A Di Đà từ chúng sanh thành Phật, trong tâm chúng sanh đều có Phật A Di Đà. Sở dĩ chúng sanh và Phật có nhiều sai khác, vì chúng sanh mê không thấu được Phật tánh, nếu đã giác ngộ tâm sẽ đồng chư Phật không khác. Nếu biết được như thế lòng tin mới chân thật. Từ lòng tin nầy mà quyết định phát nguyện niệm Phật cầu vãng sanh, một đời được bổ xứ, thẳng vào đất của Như Lai như mẹ gặp con không còn vui nào bằng.
Cốt yếu của pháp môn niệm Phật là thoát sanh tử, nếu muốn thoát sanh tử, chúng ta phải biết rõ cái khổ ấy để sanh lòng nhàm chán. Chúng ta phải biết Cực Lạc là vui để sanh lòng ham muốn. Có như thế lòng tin mới sâu, ý nguyện mới chắc, niệm Phật mới được chí thành tha thiết. Sức Phật sức pháp từ nơi lòng, đức tin nguyện của mình mà thành tựu như mặt nhật rực rỡ giữa hư không dù bị mây đen che, nhưng chắc chắn không lâu mây sẽ bị tan biến hết.
Kinh A Di Đà dạy: "Từ đây hướng về Phương Tây cách mười muôn ức cõi Phật có một thế giới tên là Cực Lạc, cõi ấy có Đức Phật hiệu là A DI ĐÀ hiện nay đang thuyết pháp.". Lại nói: "Cõi ấy vì sao gọi là Cực Lạc, vì chúng sanh trong nước ấy không có các khổ, chỉ nhận các điều vui nên gọi là Cực Lạc.". Sở dĩ chúng sanh ở cõi ấy thuần vui là do phước đức trí huệ và thần thông đạo lực của Đức Phật A Di Đà tạo nên. Trái lại, chúng ta ở trong thế gian này luôn luôn có đủ ba khổ, tám khổ, vô lượng thứ khổ, không được chút vui nên gọi Ta Bà. Ta Bà là tiếng Phạn, Tàu dịch là Kham - Nhẫn, nghĩa là chúng sanh ở trong cõi này bằng lòng nhận chịu các cái khổ, thế gian này không có được một ngày vui. Các vui nếu có chỉ là cái vui giả tạm chốc lát trong khổ mà thôi. Chúng sanh mê muội lấy khổ làm vui như đắm mình trong tửu, sắc, tài, khí, đó là cái vui trong chốc lát, trong cái vui đã nẩy mầm đau khổ rồi, vậy mà kẻ phàm phu vẫn đắm trước không bỏ lấy khổ làm vui thật đáng thương. Dù rằng có những cái vui chân thật cũng khó giữ lâu như cha mẹ còn đủ, anh em sum vầy, các việc ấy cũng vô thường, khi cảnh vui đã qua lòng buồn tiếp nối. Vì thế, nói hoàn toàn không có chút vui trọn vẹn không phải là quá đáng.
Cái khổ ở cõi Ta Bà không thể nói hết, tóm lại có ba khổ và tám khổ. Ba khổ là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ. Khổ khổ là ngũ ấm thân tâm, thể tánh bức bách, gọi là khổ, lại thêm thường chịu các khổ sanh, lão, bệnh, tử nên gọi là khổ khổ. Hành Khổ là mọi vật đều luân chuyển không ngừng thành, trụ, hoại, không luân chuyển nên gọi là hành khổ. Hoại Khổ là các vật trong thế gian không có gì tồn tại, trời có sáng tối, người có thịnh, suy, đời sống con người trong hội ngộ đã nẩy mầm chia ly, trong vui đã có khổ không thể kể hết, nên gọi là hoại khổ. Đơn cử ba khổ này cũng gồm đủ tám khổ, nếu biết được cảnh giới này hoàn toàn khổ, chúng ta sẽ lộ lòng nhàm chán cõi Ta Bà, mong muốn được sanh về cõi Cực Lạc, quyết bỏ dữ làm lành, chí thành tha thiết niệm danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương chắc chắn chúng ta sẽ được ra khỏi Ta Bà sanh về cõi Phật, làm con của Đức Phật A Di Đà và bạn của các bậc Bồ Tát bất thối.
Đức Trung Phong Pháp Sư dạy: "Tất cả chúng sanh đều có chơn tánh, tánh ấy bao hàm cả thái hư vạn tượng, bản chất luôn luôn trong sáng vắng lặng, chúng sanh chỉ mê theo dục vọng mà không biết. Chỉ có Đức Thích Ca Mâu Ni là hiểu được chơn tánh, ngoài ra các chúng sanh nhiều đời nhiều kiếp mê lầm tạo nghiệp xoay quanh trong ba nẻo sáu đường không bao giờ ra khỏi, như người mù leo lên núi đã không lên được mà mang lấy họa vào thân. Vì thế, Đức Thế Tôn thuận theo căn cơ chỉ cho mọi người con đường về nhà đó là phương pháp đặc biệt lấy tin sâu, nguyện thiết, chuyên niệm hồng danh A Di Đà Phật. Chỉ chuyên chú, trì niệm mỗi niệm kế tiếp sáu căn, sáu trần không do đâu mà phát khởi, dần dần nghiệp thức chúng sanh trở thành Như Lai bí mật tạng. Vì thế, từ khi Đức Thế Tôn khai thị pháp môn niệm Phật đến nay tất cả Bồ Tát, Tổ Sư, thiện tri thức đều vâng làm, tất cả đều đầy đủ tự lực và tha lực. Do đó, chúng ta biết rằng người chuyên nhờ tự lực, so với người nương vào tha lực thì khó và dễ cách nhau một trời một vực.
Chúng ta có đủ tin sâu, nguyện thiết và tịnh niệm tiếp nối điều nhiếp sáu căn tức là dùng hạnh nguyện của Ngài Đại Thế Chí Bồ Tát. Mỗi niệm, mỗi niệm quay về tự tánh, mỗi lần nghe đều nghe tự tánh là hạnh nguyện của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát. Hai pháp công phu này hòa với một lòng niệm Phật A Di Đà lâu dần, lâu dần tâm thức của chúng sanh trở thành Như Lai Tạng do đó nhơn nhỏ quả to. Chúng ta là kẻ phàm rất may nghe được pháp môn Tịnh Độ, con đường tắt đi vào Niết Bàn của mười phương chư Phật có lý đâu lại không kính tin vâng làm.
|