|
Page 1 of 3 
Sở dĩ chúng tôi đề cập đến tổ chức xóm làng vì xã thôn đóng một vai trò rất quan trọng - như một thành lũy - trong việc chống ngoại xâm, bảo tồn Văn hóa và nuôi dưỡng tâm tình người Việt.
Có thể nói từ một gia đình nhỏ người Việt mở rộng ra một "gia đình" lớn hơn là làng xã, trong đó mọi người chung sống như một gia đình, cũng có bàn thờ trang trọng chung thờ thành hoàng, có tài sản chung, phong tục tập quán chung, ai đáng cha kêu cha, ai đáng chú kêu chú, ai lớn tuổi hơn là anh là chị… Ngược lại, những người đáng tuổi cha chú, anh chị phải coi người dưới như con, em mình. Mọi người sống trong một cộng đồng có tôn ti trật tự, tình yêu thương, tương thân tương ái, đùm bọc che chở khi có người gặp hoạn nạn. Những tiếng bác Hai, bác Ba, thím Tư, thím Bảy để kêu người trên trong làng xóm một cách kính trọng như cha chú mình, hay con Sáu, con Tám, thằng Tư... để những người có tuổi kêu người dưới một cách thân mật như con cháu mình.
Xã hội và làng xã Việt Nam không có giai cấp quí tộc và thứ dân, không có địa chủ và nông nô như xã hội Tây phương trước kia. Nếu người nghèo không có ruộng đất riêng thì cũng được làng xã chia công điền, công thổ để làm ăn. Mọi người có cơ hội đồng đều trong cuộc sống. Do đó người nghèo không bị miệt thị vì "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời ". Nếu khoẻ mạnh, biết tính toán, chăm chỉ làm ăn sẽ có cơ hội trở nên giàu có; nếu có chí học hành sẽ thi đỗ làm quan. Những kẻ hống hách, kiêu kỳ bị khinh dể, không có chỗ đứng trong xã thôn do tính khinh bạc không coi trọng chức tước, danh vọng, mà coi trọng những điều nhân nghĩa của người mình. Câu nói "chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng " có ý mỉa mai những người có học mà kiêu căng và ngay cả những người khoa bảng hách dịch.
Ngày xưa có những ông cử nhân, tiến sĩ hay tuần phủ, tổng đốc được vua ban sắc chỉ, võng lọng về làng nhưng không có đức độ vẫn bị coi thường. Trong tiệc khao dân làng của họ, mọi người đến vì trọng bằng cấp, mũ áo của nhà vua nhưng chỉ ăn qua loa hoặc chống đũa ngồi đó làm gia chủ phải đem rượu, thịt ế đổ đi. Dưới đây là đôi câu đối của ông đồ Phan Điện viết dán ngoài cổng nhà ông Nghè Dương Lâm đang ăn khao cháu đỗ Tiến sĩ dưới thời Pháp thuộc:
- Sung sướng thay! Quan Thiều làng Vân, con đỗ cống, cháu đỗ nghè, sắc chỉ vua ban, mề đay Tây gắn, giời riêng một nhà tú dua nhiều vận tốt. (Toujours: luôn luôn)
- Đau đớn nhẽ! ông Hoàng họ Nguyễn, chồng một nơi, vợ một nẻo, ngày thì lội suối, tối lại qua đèo, đất chung cả nước, một mình gánh vác có ai khen? (trích trong Văn Minh VN trang 207 của Học giả Lê văn Siêu).
Trong tập tục xưa, người Việt không bao giờ lấy vợ kém mình nhiều tuổi: kém năm, bảy tuổi đó là em mình; kém mười lăm, hai mươi tuổi đó là con cháu mình. Những người già lấy vợ trẻ bị người ta chê cười là ham muốn nhục dục, "già đời còn chơi trống bỏi ". Cái cảnh "theo sau đủng đỉnh một đôi dì" của nhà nho Nguyễn công Trứ bị người ta chê trách, không phải là điều vinh dự trong xã hội Việt Nam.
Không ai biết làng xã được tổ chức từ bao giờ, dấu vết còn ghi lại ít nhất từ thời các vua Hùng dưới hình thức giống như các buôn, bản của đồng bào Mường hay những đồng bào thiểu số khác gần cận với chúng ta. Những tiếng cổ xưa để chỉ thôn xóm thời ấy là làng chạ, làng mạc.
Thời Vua Hùng dựng nước đã có Lạc Hầu, Lạc Tướng coi một vùng thuộc quyền của mình (như các tù trưởng hay quan lang của đồng bào thiểu số bây giờ). Như vậy là có nhiều thôn xóm, làng mạc qui tụ dưới quyền các vị Lạc hầu, Lạc Tướng và các vị này qui tụ lại thành quốc gia do các Vua Hùng kế tiếp nhau ngự trị.
Nhưng trước khi có quốc gia thì người Việt đã tổ chức làng xóm vững vàng từ lâu rồi, bằng chứng là phong tục, tập quán, luật lệ, cơ cấu chính quyền Xã, tín ngưỡng đã ăn xâu vào đầu óc người dân và đã trở thành như những nguyên tắc bất di, bất dịch nên khi thành lập quốc gia các vị Vua, Chúa phải tôn trọng: "Phép vua cũng thua lệ làng". Đời Trần (Trần thái Tông) đời Lê (Lê thánh Tông), nhà vua muốn bổ viên chức Xã Quan (hay Lý Trưởng) là người của chính quyền về cai trị thay cho viên chức từ trước vẫn do dân chúng bầu ra đều thất bại phải bãi bỏ Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân biết làng xã là nguyên nhân chính gây trở ngại cho chính sách đồng hóa của họ nên ra Nghị Định dưới danh nghĩa "Cải Lương Hương Chính" ở Miền Bắc năm 1904 và miền Nam năm 1921 cũng đưa đến thất bại vì không được dân chúng tiếp nhận.
Ngay sau khi người Pháp chiếm 6 Tỉnh miền Nam (1864), năm 1874 Luro đã thấy rằng làng xã tự trị (commune automone) là một tổ chức có truyền thống ổn định rất xa xưa và khuyến cáo nhà cầm quyền thực dân thời ấy không nên đụng chạm đến vì có thể " làm dân chúng bất bình đưa đến rối loạn ".
|