|
Page 1 of 3 Trong lịch sử Việt Nam, Phật giáo đã có một ảnh hưởng lâu dài từ đầu công nguyên cho đến ngày nay. Phật giáo đã để lại một phần không thể cắt bỏ trong tính dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam quan niệm “Nam mô A Di Đà Phật”; trong văn học cũng như trong đời sống thường, người ta thường nhắc nhở hình ảnh Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn.
Chùa Việt Nam ngày nay có màu sắc tịnh độ đậm nét. Đó là kết quả của một quá trình lựa lọc, lựa lọc của nhiều thế hệ nhà tu hành và có lẽ quan trọng hơn còn là sự lựa lọc của quần chúng. Từ đó Phật giáo đi vào cuộc sống, vào tâm thức Việt Nam.
Từ thời xa xưa Phật giáo đã được truyền bá vào xứ này. Và từ lâu ở đây đã có mặt cả ba tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Sử sách, di tích chùa tháp và công trình nghệ thuật còn lưu lại dấu vết của cả ba tông phái. Thời hưng thịnh nhất gắn liền với sự truyền bá của Thiền tông, một tông phái mới hình thành ở Trung Quốc vào quãng thế kỷ VII và không lâu sau khi ra đời ở Trung Quốc đã được Tỳ - ni - đa - lưu - chi, đệ tử của vị tổ thứ ba Thiền tông là Tăng Xán đưa vào Việt Nam (năm 580).
Từ đó, theo lịch sử hầu như Phật giáo vào Việt Nam phát triển theo xu hướng chung đó. Như thế là đã có những xu hướng nào đó trước khi Thiền tông vào và về sau Thiền tông nhường chỗ cho Tịnh độ.
Tịnh độ tông là cái đọng lại sau một quá trình lựa lọc. Niệm Phật, tọa thiền, dùng mật ngữ đều là những phép tu hành thông dụng. Nhưng đến khi chuyển sang Tịnh độ thì niệm Phật và là Phật A Di Đà mới có ý nghĩa trọng yếu để vãng sinh Cực lạc. Và điều đó mới vạch ra được cho nhiều người, kể cả những người dan thường không xuất gia, con đường không quá khó khăn để đến với Phật giáo.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam sự phân cách các tông phái không rõ rệt. Trong cả lịch sử lâu dài với nhiều chùa chiền ở khắp cả nước, chắc cũng có nhiều cao tăng tâm đắc với những kinh điển khác nhau, thực hành cách tu luyện khác nhau. Giữa đệ tử các cao tăng đó và các tự viện do họ tu trì chắc cũng hình thành những truyền thống sinh hoạt khác nhau. Nhưng một điều đáng chú ý là ta không thấy có xung khắc đấu tranh giữa các tự viện, giữa các Phật phái.
Ba vị tổ mở đầu ba dòng Thiền ở Việt Nam đều là những đệ tử trực truyền của các tổ Thiền tông Trung Hoa. Tỳ - ni - đa - lưu - chi (thế kỷ thứ VI) là đệ tử của Tăng Xán, Vô Ngôn Thông (thế kỷ IX) là đệ tử của Bách Trượng, Thảo Đường (thế kỷ XII) là đệ tử của Tuyết Đậu. Phật giáo do họ truyền bá hẳn là Thiền tông. Khi phái Trúc Lâm ra đời, các chùa hầu như cũng thống nhất vào đó. Trúc Lâm căn bản cũng thuộc Thiền tông nhưng ngày từ trong Khóa hư lục có trướ lúc phái Trúc Lâm ra đời, thì cũng đã thấy xu hướng dung hòa Thiền với Tịnh độ.
Một điều cũng đáng lưu ý là từ thế kỷ XIV, sau khi tổ thứ ba là Huyền Quang tịch, phái Trúc Lâm không đặt tổ thứ tư. Và trong lịch sử về sau ta thấy nói đến những nhà sư có đạo pháp cao như Đại Điên, Không Lộ mà cũng không thấy nói đến những nhà sư bàn về Thiền học như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ. Có lẽ bước chuyển sang Tịnh Độ đã xảy ra trước sau thời đó nhưg là một bước chuyển dần dà êm ả không có xung khắc gì nổi bật. Những yếu tố Thiền và Mật tông bớt dần.
Ở các nước Đông Á khác như Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã xảy ra một quá trình tương tự. Từ rất nhiều tông phái, hiểu Phật, Pháp khác nhau, chủ trương tu hành khác nhau, cuối cùng cũng đến một hình thức kết hợp giữa Thiền và Tịnh độ. Ở Việt Nam, đánh dấu bước chuyển đó, ta không thấy nhắc đến những bậc cao tăng như loại Nguyên Không Thân Loan ở Nhật Bản. Phải chăng bước chuyển đó xảy ra tuần tự, lâu dài, có thể do tự thân mà cũng có thể chịu ảnh hưởng từ ngoài? Có thể do sự lựa chọn cách tu hành của thiền sư mà cũng có thể do nhu cầu của thập phương đệ tử?
Phải chăng có thể hình dung sự quảng bá của Tịnh độ tông là sự thích ứng của Phật giáo vùng Đông Á với thời đại, với xã hội của một giai đoạn lịch sử? Có điều chắc chắn là bước chuyển đó làm cho Phật giáo có vai trò khác đi trong đời sống văn hóa, trong đời sống xã họi. Ai chuyên tâm niệm Phật, nghĩ điều thiện, làm việc thiện thì được vãng sinh Cực lạc. Nước Phật không chỉ dành riêng cho người xuất gia, càng không phải dành riêng cho kẻ giàu sang. Không phải quần chúng đếnvới Phật mà Phật đến với quần chúng. Quần chúng hóa như vậy, Phật giáo có ảnh hưởng xã hội rộng rãi hơn nhiều. Kết quả của việc đó là người tu hành gắn với quần chúng nghèo khổ và nhà chùa gắn với làng xã.
Phật giáo từ một nước phương xa là Ấn Độ mà vào. Tiếp xúc đầu tiên có thể là những người dân thường nhưng ở các xã hội phương Đông lúc đó không chinh phục được những người cầm quyền, những người có uy tín xã hội thì nó không thể đi vào quần chúng. Nguyện vọng giải thoát thì là chung cho mọi người nhưng thiết tha với nó và tự tin có thể thực hiện thì cũng chỉ các tầng lớp thống trị đó.
|