Báo điện tử Phật giáo online

Hạnh Phúc Chân Thường Chương 10

 

 

Khi tình trạng này xảy ra ở cấp cộng đồng, những oán thù có thể kéo dài qua nhiều thế hệ và hậu quả là cả hai phía đều bị thương tổn, cuộc sống sẽ mất đi ý nghĩa tươi đẹp. Trong các trại tỵ nạn, các phe nhóm chống đối lẫn nhau kéo theo cả trẻ con và đây là điều rất đáng buồn. Hận thù giống như lưỡi câu của ngư phủ và điều quan trọng là chúng ta phải cố gắng để đừng mắc câu.

"Cũng có khi người ta cho rằng những hận thù cao độ giúp bảo vệ những lợi ích quốc gia, nhưng theo tôi thì đây là những ý kiến tiêu cực và thiển cận. Ngược lại với quan điểm này là tâm lý hiểu biết và bất bạo động".

Như muốn thử thách thái độ thường có của chúng ta đối với kẻ thù, đức Đạt Lai Lạt Ma đưa ra một đường hướng mới có thể tạo ra những tác động cách mạng trong đời sống con người. Ngài nói : "Trong đạo Phật, thái độ của chúng ta đối với kẻ thù được xem xét khá cẩn trọng với lý do thù hận là rào cản lớn lao nhất trong việc phát triển từ tâm và hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể gia tăng lòng kiên nhẫn, tâm khoan nhượng đối với kẻ thù thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn rất nhiều : Lòng từ ái đối với tha nhân sẽ tự nhiên phát tiết. Đối với hành giả đang khai triển tâm thức, kẻ địch giữ một địa vị quan trọng. Như chúng ta đã thấy, từ ái là tinh túy của đời sống tâm linh. Muốn thành công trong hạnh từ bi, người ta không thể nào bỏ qua ý niệm khoan nhượng và nhẫn nhục. KHÔNG CÓ DŨNG CẢM NÀO HƠN ĐƯỢC ĐỨC NHẪN NHỤC CŨNG NHƯ KHÔNG PHIỀN NÃO NÀO TỆ HƠN LÒNG SÂN HẬN. Cho nên chúng ta phải nỗ lực tối đa để đừng bị vây bủa bởi cảm giác thù hận đối thủ mà ngược lại, nên coi đây là cơ hội để mình thực hành lòng khoan nhượng, chí nhẫn nhục.

"Thật ra, kẻ thù là điều kiện cần thiết để thực hiện đức nhẫn nhục, vì thiếu kẻ thù, khoan nhượng và kiên nhẫn sẽ không có điều kiện phát triển. Bạn hữu hay tha nhân không cho chúng ta những cơ hội, cũng không thử thách ta. Chỉ có kẻ thù mới giúp chúng ta có cơ hội vun bồi tính nhẫn nhục. Bởi vậy, dưới nhãn quan này, chúng ta sẽ thấy kẻ thù là một vị thầy xuất sắc mà chúng ta phải tôn trọng vì đã giúp chúng ta những cơ hội quý báu để thực hành hạnh nhẫn nhục.

Trên thế gian này có vô số vô lượng nhân sinh nhưng những người mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc thì không là mấy. Và trong số ít ỏi này, những người gây phiền lụy cho chúng ta lại càng ít hơn. Vì hiếm hoi như vậy nên chúng ta phải trân quý họ. Cũng như vô tình tìm thấy bảo vật chôn giấu trong nhà, chúng ta nên vui vẻ và cảm kích những cơ hội quý báu mà họ đã tạo nên cho chúng ta. Muốn thành đạt trong công tác hành trì nhẫn nhục và khoan nhượng tức là những điều kiện quan yếu để chống lại cảm xúc tiêu cực, chúng ta phải phối hợp các cố gắng cá nhân và các cơ hội do kẻ thù cống hiến."

"Dĩ nhiên là người ta vẫn có thể nghĩ rằng : 'Ơ hay, tại sao mình phải tôn trọng kẻ thù, mang ơn về những cống hiến của họ vì họ đâu bao giờ có ý định cung cấp những cơ hội quý báu này ? Đâu bao giờ có ý định giúp đỡ mình ? Chẳng những họ không có ý giúp đỡ mà ngược lại, họ còn chủ tâm ám hại mình nữa. Cho nên, thù ghét họ là điều thích đáng, họ không xứng đáng được mình tôn trọng' . Thật ra chính cái tâm địa xấu xa, cái chủ ý muốn ám hại mình của kẻ thù đã tạo ra những hành động độc nhất đó. Vì nếu không có chủ tâm thì lắm khi, chúng ta cũng có thể thù ghét mấy ông bác sĩ, coi họ như kẻ thù khi những vị này phải sử dụng những phương pháp trị liệu đau đớn như mổ xẻ chẳng hạn. Nhưng tại sao chúng ta không thù ghét mấy ông bác sĩ đã gây đau đớn cho ta ? Phải chăng vì hành động gây đau đớn đó xuất phát từ ý tưởng giúp đỡ thay vì hãm hại ? Vậy thì chính cái chủ ý gây đau khổ đã làm cho hành động của kẻ thù trở nên độc nhất vì đã cống hiến cho chúng ta những cơ hội để thực hành đức nhẫn nhục.

Đề nghị của đức Đạt Lai Lạt Ma về việc tôn trọng kẻ thù vì những cơ hội do họ cống hiến cho chúng ta xem ra có vẻ khó áp dụng. Nhưng nếu chúng ta xem xét trường hợp những người luyện tập thể lực thì hoàn cảnh cũng không khác nhau bao nhiêu : Ban đầu, việc sử dụng các quả tạ thật không thoải mái tý nào nhưng về lâu về dài thì chính sự nặng nề của các quả tạ, nỗi cực nhọc gian khổ mà người ta kinh qua đã đưa đến kết quả mong đợi. Nghĩa là chúng ta không thích sự khổ cực do quả tạ gây ra trong hiện tại nhưng là kết quả mà chúng mang đến cho ta trong tương lai.

Ngay cả ý niệm "hiếm hoi" và "quý báu" mà đức Đạt Lai Lạt Ma đề cập đến trong hành động của kẻ thù cũng rất hợp lý và thực tế. Do nghề nghiệp, tôi thường kiên nhẫn ngồi nghe những khó khăn mà các thân chủ thường gặp đối với người chung quanh, và tôi đã nhận ra một cách dễ dàng rằng, ở tầm mức cá nhân, mọi người trong chúng ta không ai có nhiều kẻ thù hay địch thủ. Thường thì những đụng chạm chỉ xảy ra với một ít người như xếp, đồng nghiệp, vợ/chồng cũ hay anh chị em. Như vậy, quả thật chúng ta không có bao nhiêu kẻ thù, tức là kẻ thù khá hiếm. Và những tiến trình giải quyết các xung đột với họ- học hỏi, khảo sát, tìm cách đối phó... đã cuối cùng giúp chúng ta trưởng thành, đã tạo ra những tâm lý liệu pháp rất hiệu quả.

Hãy tưởng tượng cuộc sống chúng ta không có khó khăn, thù nghịch. Nếu từ lúc nằm nôi cho đến khi xuống mồ mà ai cũng nuông chiều và ưu đãi mình, lúc nào cũng hoan hỷ và tán dương mình. Nếu suốt đời không phải đối diện với một khó khăn hay thử thách ... Nói gọn lại, tức là chúng ta được đối xử như một đứa trẻ con. Mới nghe thì có vẻ hay đấy, nhưng nó sẽ làm cho chúng ta trở thành một hiện-hữu-vô-tích-sự-và-kỳ-quái với sự phát triển tinh thần và cảm xúc ở mức độ của một con bò con ! Chính những vật lộn với đời làm chúng ta khôn lớn, và chính kẻ thù là người đã thử thách, đã giúp chúng ta trưởng thành.

MỘT THÁI ĐỘ THỰC DỤNG?

Giải quyết những vấn đề của chúng ta một cách hợp lý, quan sát những chướng ngại hay địch thủ bằng nhiều viễn tượng khác nhau xem ra rất hữu ích, nhưng tôi hơi hoang mang rằng phương pháp này sẽ chuyển hóa thái độ của chúng ta đến mức nào. Tôi nhớ lại đoạn kinh sau đây mà tôi đã có dịp đọc trong một buổi nói chuyện với đức Đạt Lai Lạt Ma. Đoạn này là một phần trong bài kinh có tên "Tám vần thơ tu tâm" được viết bởi Langri Thangpa, một vị thánh Tây Tạng vào thế kỷ 11 mà đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn trì tụng hàng ngày :

- Khi liên tưởng đến ai, tôi xin nguyện làm kẻ thấp hèn nhất và tận đáy lòng, xin nâng họ lên cao ...

- Khi gặp kẻ có tâm địa xấu xa, bị thúc đẩy bởi tội lỗi hung bạo, tôi nguyện coi họ là những cơ duyên hiếm hoi quý báu như thể đã tìm được một gia tài quý giá.

- Khi ai đó vì lòng đố kỵ đã nhục mạ hay vu khống tôi, xin nguyện làm kẻ thua thiệt và dâng tặng cho họ sự chiến thắng.

- Khi ai đó mà tôi đặt hết lòng tin tưởng lại hãm hại tôi thật tàn tệ, nguyện xin coi họ là vị đạo sư.

- ....

Tóm lại, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, xin nguyện dâng tặng tất cả lợi dưỡng và hạnh phúc cho hết thảy chúng sinh và xin âm thầm gánh lấy tất cả khổ não cùng nguy khốn cho tất cả mọi loài.

Đọc xong bài kinh, tôi hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma : "Tôi biết Ngài suy nghiệm về bài kệ này rất nhiều, nhưng Ngài có cho rằng nó thực dụng trong thế giới ngày nay ? Vì tôi nghĩ bài kệ được viết bởi một tu sĩ sống cả đời trong tu viện, nơi mà đôi khi, người ta chỉ nói xấu, dối gạt nhau hay cùng lắm, một cái bợp tai hay vài quả thụi. Trong hoàn cảnh đó, dâng tặng chiến thắng cho người không phải là chuyện khó. Nhưng trong xã hội ngày nay, sự thương tổn bao gồm cả hãm hiếp, tra tấn, giết người .... Từ bối cảnh đó, những ý tưởng của bài kinh xem ra không thực tế lắm với cuộc sống bây giờ." Tôi có vẻ tự hào vì đã đưa ra một nhận xét mà tôi cho là khá thích đáng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma im lặng mấy phút với vẻ suy nghĩ sâu xa rồi đáp : "Những điều anh nói có phần đúng". Sau đó, Ngài nói đến những thay đổi cần thiết cho hợp thời của những ý tưởng trên và cho rằng người ta có thể phải sử dụng những phương pháp mạnh bạo hơn để tránh tổn hại cho mình và cho người.

Tối hôm đó, tôi ngồi suy nghĩ lại những điều đã được đề cập đến trong buổi nói chuyện. Có hai điểm chính hiện ra rõ rệt : Trước hết, tôi hơi ngỡ ngàng về thái độ sẵn sàng chấp nhận một cái nhìn mới đối với niềm tin và phương pháp tu hành thường nhật của đức Đạt Lai Lạt Ma. Thái độ này cho thấy ý muốn tái thẩm định những niềm tin cố hữu vốn đã thành tập quán được lập đi lập lại mỗi ngày trong bao nhiêu năm qua. Điểm thứ hai không mấy thú vị lắm vì tôi nhận ra rằng mình khá si mê. Tôi đã nói với đức Đạt Lai Lạt Ma rằng những ý tưởng trong bài kinh ấy không thích hợp với hoàn cảnh sống đầy tai biến hiện nay. Tôi đã nói với một người mất quê hương vì một sự xâm lấn hung bạo nhất trong lịch sử nhân loại, một người đã sống kiếp lưu đày gần bốn thập niên trong khi niềm hy vọng được giải phóng của cả đất nước đang đè nặng trên vai ông. Một người với trách nhiệm cá nhân thật sâu sắc đã lắng nghe bằng tất cả từ tâm hàng loạt những câu chuyện bi thảm từ giết chóc, hãm hiếp, tra tấn và cả tình trạng thoái hóa của người dân Tây Tạng dưới gót giày xâm lược của Trung quốc. Đã hơn một lần, tôi tận mắt nhìn thấy nét bi ai cũng như vẻ chăm chú trên nét mặt đức Đạt Lai Lạt Ma khi nghe những người vượt rặng Hy Mã Lạp Sơn chỉ để được một lần nhìn mặt Ngài, một cuộc hành trình gian khổ thường mất khoảng hai năm đi bộ.

Những câu chuyện về sự đày ải người dân Tây Tạng không chỉ nhắm vào thể xác mà còn có mục đích phá nát tinh thần của họ. Tôi có lần được nghe một người tỵ nạn trẻ tuổi nói về các trường học do Trung quốc lập ra. Tất cả các thanh thiếu niên lớn lên ở Tây Tạng đều phải vào các trường này. Buổi sáng, họ phải học tập về tư tưởng Mao Trạch Đông và chủ thuyết Cộng sản. Buổi chiều là phần khảo bài tập làm tại nhà. Các bài tập làm tại nhà đều nhằm vào việc phá hủy toàn bộ tư tưởng Phật giáo đã ăn sâu vào tâm thức người dân Tây Tạng. Thí dụ như biết rằng Phật giáo cấm sát sanh và rằng tất cả mọi chúng sinh hữu tình đều bình đẳng về quyền được sống, một thầy giáo đã bắt tất cả học sinh phải giết một số sinh vật và đem xác chết đến trường vào ngày hôm sau. Các sinh vật bị giết hại sẽ được xếp hạng để cho điểm : ruồi 1 điểm, côn trùng 2 điểm, chuột 5 điểm, mèo 10 điểm...(Về sau, khi nghe tôi kể lại chuyện này, một người bạn đã lắc đầu ngao ngán : 'Không biết học sinh sẽ được bao nhiêu điểm nếu giết chết tên thầy giáo khốn nạn đó ?')

Trong hoạt động trau dồi tâm thức như trì tụng bài kệ Tám vần thơ tu tâm, mặc dù hiểu rõ về thực chất cuộc sống hiện nay, đức Đạt Lai Lạt Ma vẫn tích cực hoạt động cho tự do và quyền làm người của dân Tây Tạng trong suốt 40 năm qua. Trong lúc đó, Ngài vẫn giữ vững thái độ khiêm cung và từ ái đối với Trung cộng. Thái độ này đã khiến hàng triệu người trên thế giới ngưỡng phục Ngài. Và tôi ngồi đây, tự hào với ý nghĩ cho rằng những tư tưởng đó có thể không phù hợp với thực tế của thế giới hiện tại. Cho đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại chuyện này, tôi vẫn còn hổ thẹn.

KHÁM PHÁ VIỄN TƯỢNG MỚI

Vào một buổi chiều nọ, tôi vô tình rơi vào một hoàn cảnh thật thích hợp để áp dụng phương thức chuyển đổi tầm nhìn đối với kẻ thù của đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong khi biên soạn cuốn sách này, tôi có tham dự vài buổi thuyết giảng của Ngài tại bờ biển phiá đông và tôi trở về nhà ở Phoenix bằng một chuyến bay thẳng (không ghé các trạm phụ). Như thường lệ, tôi giữ một chỗ ngồi ở kế lối đi ... Mặc dù mới tham dự buổi thuyết giảng của đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi cũng không mấy thích thú khi phải chen lấn trên chuyến bay chật cứng hành khách. Và tôi nhận ra chỗ ngồi đã bị xếp lầm vào hàng ghế giữa. Bên này là một ông khách to lớn ngồi choán cả chỗ để tay. Bên kia là một người đàn bà trung tuần mà mới nhìn mặt là tôi đã thấy ghét vì nghi rằng bà ấy đã chiếm chỗ ngoài bìa của tôi. Có một cái gì đó ở người đàn bà này làm tôi khó chịu. Giọng nói the thé hay điệu bộ quá kiểu cách ? Tôi không chắc lắm.Sau khi máy bay cất cánh, người đàn bà bắt đầu nói chuyện không ngớt với người đàn ông ngồi trước mặt mà qua lời đối thoại, tôi được biết là chồng bà ta. Tôi lịch sự đề nghị đổi chỗ cho ông ấy nhưng bị từ chối vì cả hai người đều muốn ngồi ở hàng ghế ngoài. Sự việc làm tôi bực tức thêm. Tưởng tượng phải ngồi trong tình trạng hắc ám này trong suốt chuyến bay dài 5 tiếng đồng hồ làm tôi không chịu nổi. Bỗng tôi nhận ra là mình đã phản ứng quá đáng với một người đàn bà không quen biết, tôi bèn chú tâm suy nghĩ về tình trạng này : Có lẽ bà ta làm tôi liên tưởng đến một người nào đó lúc còn niên thiếu, cảm giác ghét bỏ không thể giải thích được đối với mẹ tôi hoặc một điều gì đó. Tôi lục lọi trí óc nhưng không thể tìm ra được một hình ảnh nào của thời đã qua.

Rồi thì tôi chợt nhận ra bà ta là một cơ hội toàn hảo để tôi thực tập phát triển tính nhẫn nhục. Tôi tập trung tư tưởng để hình dung ra địch thủ của tôi được xếp ngồi ở ghế ngoài bìa hầu có dịp cho tôi một bài học về nhẫn nhục và khoan nhượng, và tôi nghĩ rằng sự tập trung tư tưởng sẽ không khó khăn gì : Tôi vừa mới gặp bà ta, người đàn bà chẳng làm gì thiệt hại đến tôi cả, vân vân và vân vân. Độ hai mươi phút sau thì tôi đầu hàng, người đàn bà vẫn làm tôi bực bội suốt chuyến bay. Với tâm trạng hờn dỗi, tôi nhìn vào bàn tay người đàn bà đang gát trên chỗ để tay của tôi. Tôi ghét mọi thứ liên hệ đến bà ta ! Tôi nhìn vào chiếc móng tay ngón cái của người đàn bà và tự hỏi có phải tôi không thích cái móng tay này ? Không, chẳng có gì đáng ghét cả, nó trông bình thường. Kế đó, tôi nhìn đôi mắt bà ta và nghĩ : Tôi không thích đôi mắt này chăng ? Đúng, đúng rồi ! (dĩ nhiên là không có lý do và đây là hình thức thông thường nhất của tâm trạng ghét bỏ) Tôi quan sát kỹ hơn : Có phải tôi không thích đôi đồng tử ? Không hẳn ! Hay lớp võng mô, hay tròng mắt hay giác mạc ? Cũng không đúng. Có chắc là tôi không thích đôi mắt người đàn bà ? Tôi không chắc lắm. Vậy thì tôi ghét cái gì ở người đàn bà không quen này ? Tôi nhìn đến các ngón tay, đến khuỷu tay ..... và tôi nhận ra chẳng có gì đáng ghét cả.

Quan sát từng chi tiết nhỏ thay vì một cái nhìn tổng quát làm thay đổi tình cảm ghét bỏ của tôi đối với người đàn bà. Sự chuyển đổi tầm nhìn làm tôi mất hẳn thành kiến đối với bà ta và tôi thấy bà ta cũng bình thường như những người khác. Khi những tư tưởng này lần lượt diễn ra trong trí thì người đàn bà bỗng quay sang nói chuyện với tôi. Tôi không nhớ là chúng tôi đã trao đổi với nhau những gì- chỉ là chuyện xã giao- nhưng nhờ đó mà mối bực tức trong lòng tôi đã giảm hẳn. Người đàn bà không trở nên một người bạn mới của tôi nhưng cũng không còn là con mụ hắc ám đã chiếm chỗ ngồi phía ngoài của tôi nữa. Người đàn bà chỉ đơn thuần là một con người, như tôi, đang sống giữa chợ đời.

MỘT TÂM THỨC LINH HOẠÏT

Khả năng chuyển đổi tầm nhìn, khả năng nhìn các khó khăn của đời sống từ nhiều góc cạnh khác nhau là sản phẩm của một tâm thức linh hoạt. Một tâm thức linh động, mềm dẻo cho phép chúng ta dang tay ôm trọn cuộc sống, sống một cách trọn vẹn và đầy nhân tính. Sau một ngày dài nói chuyện với công chúng ở Tucson, đức Đạt Lai Lạt Ma tản bộ về phòng riêng của Ngài trong khách sạn. Trên trời, những đám mây chiều rực rỡ chiếu sáng cả vùng đồi núi Catalina và toàn thể cảnh vật mênh mông được nhuộm một màu đỏ tía. Quang cảnh thật hết sức lộng lẫy. Khí trời ấm áp, phảng phất hương thơm của các loài cây sa mạc, mùi cỏ sô thơm, mùi ẩm thấp, gió heo may ... tất cả như báo trước sự xuất hiện không thể nào kềm giữ được của cơn giông miệt Sonoran.

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng bước, lặng lẽ ngắm chân trời,

quan sát toàn thể cảnh vật rồi cuối cùng, đưa ra vài nhận xét về kiến trúc khu vực Ngài đang tạm trú. Đức Đạt Lai Lạt Ma cất bước rồi lại ngừng, Ngài cúi xuống mân mê một búp non của bụi oải hương. Ngài nhận xét vẻ mảnh khảnh của cành hoa và phân vân tại sao nó lại có tên như vậy. Tôi bỗng dưng khâm phục về tính linh động của tâm thức đức Đạt Lai Lạt Ma : Đang quan sát vẻ bao la vô tận của thiên nhiên bỗng quay sang một búp hoa nhỏ bé, đang thưởng ngoạn nét hùng vĩ của toàn vùng nhưng cũng không bỏ sót một chi tiết nhỏ nhoi. Cái khả năng bao quát tất cả mọi phương diện của đời sống, toàn bộ cuộc đời.

Tất cả chúng ta đều có khả năng làm cho tâm thức trở nên linh hoạt. Đây là kết quả của các cố gắng nới rộng tầm nhìn, cố gắng nhìn sự việc từ một quan điểm mới. Nó cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh cùng lúc với chi tiết. Cách nhìn lưỡng thể này (vừa thấy đại thể vừa thấy tiểu thể cùng một lúc) cho phép chúng ta phân biệt cái gì quan trọng trong cuộc sống và cái gì không. Riêng trường hợp của tôi, trong những buổi đàm thoại, tôi cũng được ảnh hưởng chút đỉnh bởi thái độ của đức Đạt Lai Lạt Ma để thoát ra khỏi quan điểm hẹp hòi của mình. Do bản tính cũng như được huấn luyện bởi nghề nghiệp, tôi thường diễn đạt các vấn đề từ quan điểm cá nhân. Tôi cho rằng các diễn biến tâm lý hoàn toàn nằm trong phạm vi trí thức, còn các viễn tượng về chính trị và xã hội của vấn đề thường không được tôi quan tâm đúng mức. Trong một lần gặp gỡ, tôi đã hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma về tầm quan trọng của việc đạt được một tầm nhìn rộng rãi hơn. Đã uống hai ba ly cà phê trước đó, tôi diễn đạt một cách khá linh động và hào hứng về khả năng chuyển đổi tầm nhìn như là một diễn biến nội tại, có tính cách cá nhân và tùy thuộc hoàn toàn vào ý chí từng người trong quyết định chấp nhận một quan điểm mới. Đức Đạt Lai Lạt Ma thấy tôi có vẻ hơi quá đà nên ngắt lời :

"Khi đề cập đến việc chấp nhận một quan điểm rộng rãi hơn tức là chúng ta nói đến sự hợp tác với tha nhân. Khi nói đến những vấn nạn có tính cách toàn cầu như vấn đề môi sinh, cấu trúc kinh tế hiện tại ... tức là chúng ta đã kêu gọi cố gắng hợp tác và hòa đồng từ nhiều người chứ không đơn thuần là sản phẩm riêng rẽ của cá nhân."

Không mấy hài lòng khi đức Đạt Lai Lạt Ma cứ đề cập đến ý niệm toàn cầu trong khi tôi đang chú tâm vào vai trò của cá nhân (và tôi phải công nhận rằng đây là trọng điểm của việc nới rộng tầm nhìn) nên tôi quả quyết : "Nhưng tại các buổi nói chuyện trong tuần này, Ngài đã nói về tầm quan trọng của sự thay đổi thái độ từ bên trong, của sự chuyển hóa nội tại. Ngài cũng nói nhiều về việc phát triển từ tâm, tâm trạng nồng nhiệt, khắc phục giận dữ, chế ngự hận thù, vun bồi nhẫn nhục và khoan nhượng... toàn là các vấn đề cá nhân".

"Vâng, đương nhiên là sự thay đổi phải bắt nguồn từ bên trong của mỗi người" . Đức Đạt Lai Lạt Ma đáp : "Nhưng khi tìm kiếm các giải pháp cho các vấn nạn có tính cách toàn cầu, chúng ta phải nhìn vấn đề từ quan điểm cá nhân cũng như quan điểm xã hội, cộng đồng. Cho nên khi nói đến tính cách mềm dẻo của tâm thức, nói đến một quan điểm rộng rãi hơn... chúng ta phải có khả năng diễn đạt vấn đề từ nhiều cấp độ : phạm vi cá thể, mức độ cộng đồng và tầm mức thế giới.

"Trong một buổi nói chuyện tại trường đại học, tôi có đề cập đến nhu cầu hạn chế hận thù, giận dữ bằng cách vun trồng nhẫn nhục và khoan nhượng. Tối thiểu hóa thù hận cũng giống như giải giới nội tâm. Nhưng cũng trong buổi nói chuyện đó, tôi đã nêu rõ nhu cầu giải giới phải được thực hiện cả bên trong lẫn bên ngoài. Đây là một điểm rất quan trọng. May mắn là sau khi Đế quốc Sô viết sụp đổ, ít nhất vào lúc này, chúng ta không bị đe dọa bởi sự hủy diệt nguyên tử, và tôi cho rằng đây là thời điểm, là sự khởi đầu rất tốt đẹp mà chúng ta không nên để lỡ. Chúng ta phải tăng cường sức mạnh hòa bình, chân hòa bình chứ không phải chỉ là sự vắng mặt của chiến tranh và bạo lực. Không có chiến tranh có thể là do sự sợ hãi đối với các loại vũ khí như mối đe dọa hạt nhân, nhưng tình trạng này không phải là một nền hòa bình chân chính và lâu dài. Hoà bình phải được thành hình từ sự tin tưởng lẫn nhau. Vì vũ khí là chướng ngại lớn lao nhất cho công cuộc phát triển niềm tin, nên tôi cho rằng đây là thời điểm thuận lợi để chúng ta tìm cách giải giới. Đây là chuyện lớn nên không thể quyết định hấp tấp và một giải pháp từng phần có thể rất hợp lý. Phải đặt rõ mục tiêu tối thượng của thời đại chúng ta là toàn thể thế giới phải trở thành phi quân sự. Do vậy, ở tầm vóc cá nhân, chúng ta phải phát triển an bình trong tâm thức, nhưng đồng thời ở mức độ toàn cầu, chúng ta phải nhắm đến mục tiêu giải giới và kiến tạo hòa bình. Bất cứ một đóng góp nào dù nhỏ nhoi cũng đều được cổ võ. Và đó là trách nhiệm của thời đại chúng ta.

TẦM QUAN TRỌNG CỦA LỐI SUY NGHĨ

LINH HOẠT

Có một sự liên hệ hỗ tương giữa tâm thức linh hoạt và khả năng chuyển đổi tầm nhìn. Tâm thức linh hoạt hay mềm dẻo giúp chúng ta diễn giải vấn đề từ nhiều viễn tượng khác nhau hay cố tình khảo sát vấn đề một cách khách quan từ nhiều vị trí khác biệt đều có thể được coi là những hình thức huấn luyện làm cho tâm thức trở nên linh hoạt, dễ uốn nắn. Trong thế giới ngày nay, những cố gắng đạt đến một lề lối suy nghĩ linh động không còn đơn thuần là những thao tác nhàn nhã của trí tuệ, mà nó trở thành vấn đề sống chết. Trong diễn trình tiến hóa, những loài dễ thích ứng với các thay đổi của môi trường sinh thái, dễ uốn nắn thường không bị hủy diệt và phát triển theo thời gian. Đặc trưng của cuộc sống ngày nay là bất ngờ và các thay đổi đôi khi nhuốm vẻ bạo lực, cho nên lề lối suy nghĩ linh hoạt giúp ta thỏa hiệp với những thay đổi xảy ra chung quanh. Nó cũng giúp chúng ta hợp nhất với những xung đột nội tại, những bất nhất, những lưỡng ước trong tâm tưởng. Không có một tâm thức mềm dẻo, cách nhìn đời của chúng ta sẽ dễ bị sứt mẻ và từ đó, sự liên hệ của chúng ta đối với cuộc đời mang màu sợ hãi. Nhưng nếu chấp nhận một khuynh hướng mềm dẻo đối với cuộc đời, chúng ta có thể duy trì tâm trạng bình tĩnh ngay trong các điều kiện khắc nghiệt. Do quyết tâm, chúng ta có thể đạt được một tâm thức linh hoạt để nuôi dưỡng chí dũng mãnh của tuệ giác.

Trong thời gian quen biết đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi vẫn khâm phục tính linh động, khả năng suy xét bằng nhiều nhãn quan của Ngài. Người ta có thể nghĩ rằng với vai trò độc nhất của Ngài (một tu sĩ Phật giáo được nhắc nhở, chấp nhận nhiều nhất), đức Đạt Lai Lạt Ma được người đời tôn vinh là KẺ BẢO V? NIỀM TIN. Mang ý tưởng đó, tôi hỏi : "Có khi nào Ngài thấy mình quá cứng rắn trong việc bảo vệ niềm tin của mình ?"

"À..." Đức Đạt Lai Lạt Ma suy nghĩ một lát rồi đáp : "Không, tôi không nghĩ vậy. Trái lại là khác. Nhiều khi tôi bị kết tội là thiếu nhất trí trong chính sách vì quá linh động". Đức Đạt Lai Lạt Ma phá ra cười : "Lắm khi ... một người đến gặp tôi và đưa ý kiến về một vấn đề gì đó. Khi hiểu lý do tại sao người ấy đưa ra đề nghị như vậy thì tôi bằng lòng và khen 'tốt lắm'. Rồi một người khác đến gặp tôi với quan điểm trái ngược, tôi cũng thấy lý do của anh ta và tôi cũng bằng lòng. Thành ra không thiếu gì dịp tôi bị trách cứ và được nhắc nhở là 'Trước đây, chúng ta đã đồng ý về giải pháp này và trong giai đoạn

hiện tại, chúng ta phải tiếp tục chính sách đã được đề ra' ...".

Khi nghe như vậy, người ta có thể cho rằng đức Đạt Lai Lạt Ma là thiếu quyết định, không có những nguyên tắc dẫn đạo... Thật ra không phải như vậy. Ngài có những niềm tin căn bản làm hậu thuẫn cho các quyết định của mình : Tin tưởng rằng bản chất con người vốn thiện, tin tưởng vào giá trị của lòng từ bi, tin tưởng ở một chính sách khoan hòa và tin tưởng vào sự đồng đẳng giữa mọi loài. Khi nói đến tính linh hoạt, dễ thích hợp, tôi không có ý định cho rằng chúng ta sẽ trở thành một thứ hoạt đầu, theo gió, nghĩa là hễ thấy cái gì lạ, mới là hùa theo đến độ quên cả nguồn gốc, căn bản. Sự thăng tiến và phát huy tâm thức ở bình diện cao tùy vào sự chỉ đạo của những giá trị căn để mà chúng ta đã có. Hệ thống giá trị này giúp đời sống được liên tục và có mạch lạc qua những kinh nghiệm mà chúng ta gặp được trên đường đời. Nó cũng giúp chúng ta quyết định những mục tiêu nào là hữu ích, đáng theo đuổi và mục tiêu nào không.

Câu hỏi được đặt ra là làm sao chúng ta vẫn nhất quán, không chao đảo trong việc duy trì những giá trị căn bản đồng thời lại linh hoạt, dễ chấp nhận các viễn tượng mới ? Đức Đạt Lai Lạt Ma xem ra đã đạt được mục tiêu này bằng cách đơn giản hóa những giá trị căn để của mình xuống 3 phương diện chính :

1- Tôi là một chúng sinh.

2- Tôi muốn được hạnh phúc và tránh xa khổ não.

3- Tất cả mọi người cũng muốn được hạnh phúc và tránh xa khổ não như tôi.

Nhấn mạnh vào những giá trị chung mà Ngài cùng chia xẻ với mọi người thay vì để ý đến những khác biệt đã khiến đức Đạt Lai Lạt Ma có được cảm giác kết nối với tha nhân, đồng thời dẫn đến niềm tin vào lòng vị tha và từ ái. Sử dụng phương pháp này có thể mang lại cho chúng ta sự tưởng thưởng lớn lao bằng cách nhìn lại những giá trị căn bản của mình rồi giản lược chúng vào một vài nguyên tắc chính yếu. Chính sự giản lược vào các trọng điểm này cho phép chúng ta được tự do và linh động trong khi ứng phó với hàng loạt những vấn nạn mà ai cũng gặp phải trong đời sống hàng ngày.

TÌM KIẾM SỰ QUÂN BÌNH

Phát triển tính linh hoạt trong đời sống không chỉ giúp chúng ta trong sự ứng xử, nó còn là yếu tố căn bản của cuộc sống hạnh phúc : sự quân bình. Một buổi sáng, ngồi thoải mái trong chiếc ghế, đức Đạt Lai Lạt Ma giải thích về giá trị của một đời sống quân bình như sau :

"Một khuynh hướng khôn khéo và quân bình, tránh các cực đoan là những yếu tố quan trọng của cuộc sống hàng ngày về mọi phương diện. Cũng như khi trồng một cây non, chúng ta phải cẩn trọng và khéo léo. Quá nhiều nước hay ánh sáng sẽ có hại cho cây, không đủ nước hay ánh sáng cũng không tốt cho cây. Nghĩa là chúng ta phải cung cấp một điều kiện sinh thái quân bình để cây non có thể phát triển. Đối với sức khoẻ thể chất của chúng ta cũng vậy, quá nhiều hay quá ít một chất gì cũng đều dẫn đến kết quả không tốt, kể cả chất đạm.

"Khuynh hướng khôn khéo và hòa nhã, không vướng vào cực đoan cũng cần thiết cho sự trưởng thành của cảm xúc và tâm lý. Thí dụ như khi thấy mình trở nên kiêu mạn, thấy mình quá quan trọng vì những thành quả đạt được thì phản đề trong hoàn cảnh này là nghĩ đến những vấn nạn, những khổ não của chính mình, suy gẫm đến những phương diện bất như ý của cuộc sống. Làm như thế sẽ khiến chúng ta bớt kiêu ngạo mà trở nên khiêm tốn hơn. Ngược lại, khi soi rọi về những bản chất không thỏa đáng của cuộc sinh tồn, về các đau đớn và khổ não làm cho chúng ta bị chìm ngập bởi ý tưởng bi quan, thì nguy cơ là chúng ta lại rơi vào một thái cực khác mà hậu quả là chúng ta bị nản chí, vô vọng và suy thoái vì nghĩ rằng : 'Ôi, tôi không làm được gì cả, tôi vô tích sự'. Trong hoàn cảnh này, hãy nghĩ đến những thành công đã gặt hái, đến những tiến bộ đã đạt được hoặc những phẩm chất tích cực khác để đẩy lui các ý tưởng bi quan, chán nản. Nói gọn lại, cái mà chúng ta cần là một khuynh hướng quân bình và khôn khéo.

Khuynh hướng này không chỉ giúp chúng ta có được sức khỏe thể chất và tinh thần mà còn giúp sự phát triển tâm linh. Chẳng hạn như trong Phật giáo, có rất nhiều kỹ thuật và phương pháp hành trì. Nhưng không phải tất cả các phương thức và kỹ thuật này đều thích hợp cho tất cả mọi người. Mỗi cá nhân phải chọn những hình thức thích hợp để không bị quá tải, nghĩa là chúng ta cũng cần đến sự quân bình và khôn khéo. Khi hành trì Phật đạo, chúng ta nên chọn một khuynh hướng phối hợp bao gồm cả nghiên cứu học hỏi lẫn thực tập thiền định. Nó tránh cho chúng ta tình trạng mất thăng bằng giữa học và hành vì nếu quá chú trọng vào phần hiểu biết, chúng ta sẽ thiếu phần thực tập, và nếu quá chú tâm vào thực hành, chúng ta sẽ không đủ tri thức..."

Đức Đạt Lai Lạt Ma ngừng một lúc để suy ngẫm rồi nói tiếp : "Nói cho dễ hiểu thì hành đạo trên một phương diện nào đó cũng giống như bộ phận ổn định hiệu thế của giòng điện. Nó giúp chúng ta tránh được những gia giảm bất thường đồng thời giữ cho giòng điện lúc nào cũng ổn định và liên tục."

Tôi chen vào : "Ngài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tránh rơi vào các cực đoan nhưng chính những thái quá này làm cho đời sống trở nên kích động và thích thú. Nếu lúc nào cũng tránh quá đà, lúc nào cũng ở trong trạng thái 'trung đạo', liệu đời sống có trở nên nhạt nhẽo, vô vị ?"

Đức Đạt Lai Lạt Ma lắc đầu và đáp : "Tôi nghĩ rằng chúng ta phải thấu hiểu căn nguyên của cảm xúc quá khích. Hãy nói đến sự đeo đuổi vật chất thế tục như nhà cửa, đồ đạc, quần áo ... Một mặt, sự nghèo đói được coi là một thái cực mà chúng ta cần phải khắc phục vì con người có quyền được hưởng những tiện nghi tối thiểu. Mặc khác, quá xa hoa sung sướng cũng là một thái cực khác. Mục tiêu của việc theo đuổi những cám dỗ vật chất là sự thỏa mãn, sung sướng. Nhưng càng có nhiều, người ta càng cảm thấy chưa đủ và người ta mang tâm trạng không thỏa mãn, không hài lòng. Chính cảm giác không thỏa mãn này, cảm giác mong muốn ngày một nhiều hơn này không phát xuất từ những vật chất mà chúng ta có được, nó phát xuất từ trạng thái tinh thần của chúng ta.

"Vì vậy, tôi cho rằng khuynh hướng cực đoan thường được thúc đẩy bởi các cảm giác không thỏa mãn. Dĩ nhiên là cũng có những lý do khác đưa đến khuynh hướng cực đoan nhưng điều quan trọng là sự quá khích tuy có vẻ kích động và hấp dẫn, chúng thường đưa đến những hậu quả nguy hại. Có rất nhiều thí dụ về điều này và khi khảo sát chúng, người ta dễ dàng nhận ra rằng chính chúng ta là nạn nhân của các chủ trương quá khích. Ngư nghiệp chẳng hạn, nếu không chú trọng đến các hậu quả trường kỳ, hành động vô trách nhiệm bằng cách bắt cá bằng mọi phương tiện thì một ngày nào đó, cá sẽ bị tuyệt chủng. Tình dục cũng vậy. Chúng ta không chối cãi rằng con người có nhu cầu tự nhiên về truyền giống và sự thỏa mãn thể xác qua hoạt động tình dục, nhưng nếu không có trách nhiệm tương xứng, nó sẽ dẫn đến các tệ nạn như lạm dụng tình dục, loạn luân..."

"Ngài vừa đề cập đến những lý do khác đưa đến khuynh hướng quá khích..."

Đức Đạt Lai Lạt Ma gật đầu : "Vâng, đúng như vậy."

"Xin Ngài cho một thí dụ."

"Tư tưởng hẹp hòi cũng là một nguyên do đưa đến quá khích."

"Tư tưởng hẹp hòi theo nghĩa ...?"

"Thí dụ về ngư nghiệp mà tôi vừa nói ở trên là một điển hình về sự hẹp hòi và nông cạn của tâm thức theo nghĩa người ta chỉ nghĩ đến hiện tại mà không để ý đến tương lai. - đây, người ta có thể sử dụng giáo dục và kiến thức để nới rộng tầm nhìn, giảm bớt tính nông cạn trong quan điểm của chúng ta."

Đức Đạt Lai Lạt Ma cầm xâu chuỗi ở chiếc bàn con bên cạnh ghế ngồi, xoa giữa hai tay và im lặng suy ngẫm về đề tài đang thảo luận. Cúi nhìn xâu chuỗi, Ngài nói tiếp : "Có nhiều cách khiến cho những tư tưởng nông cạn hẹp hòi dẫn đến sự quá khích, và chuyện này gây ra nhiều rối rắm. Tây Tạng là một quốc gia theo Phật giáo từ nhiều thế kỷ. Hậu quả là người Tây Tạng coi Phật giáo là tôn giáo hoàn hảo nhất và có khuynh hướng cho rằng nếu mọi người trên thế gian này đều là Phật tử thì thật là một điều tốt đẹp. Ý niệm cho rằng tất cả mọi người đều là Phật tử thật là cực đoan và lối suy nghĩ này đã gây ra nhiều hệ lụy.

"Nhưng bây giờ không còn ở Tây Tạng nữa, chúng tôi có dịp liên hệ và tìm hiểu những truyền thống tín ngưỡng khác. Điều này đưa người Tây Tạng đến gần với thực tế hơn, nhận thức được rằng có nhiều thiên hướng tinh thần khác nhau trong cộng đồng nhân loại. Cố gắng Phật giáo hóa toàn thế giới là một điều không tưởng. Qua sự liên hệ với các truyền thống khác, chúng ta tìm được những điểm tích cực ở họ và do đấy, khi đối diện với một tôn giáo khác, chúng ta sẽ có cảm giác tích cực và thoải mái. Chúng ta sẽ nghĩ rằng nếu ai đó tìm thấy một truyền thống thích hợp hơn, hiệu quả hơn cho họ thì đấy là một điều tốt. Cũng giống như khi đi nhà hàng, chúng ta có thể ngồi chung một bàn, gọi những món ăn khác nhau tùy theo sở thích. Chúng ta thưởng thức những món ăn khác nhau này và không ai bàn cãi gì về chuyện đó cả.

Cho nên tôi nghĩ rằng, khi mở rộng tầm nhìn, chúng ta sẽ khắc phục được tư tưởng cực đoan với những hậu quả rất tiêu cực." Đức Đạt Lai Lạt Ma quàng xâu chuỗi vào cổ tay, thân mật vỗ lên tay tôi, đứng dậy và kết thúc buổi nói chuyện.

(còn tiếp)