Báo điện tử Phật giáo online

Những câu thơ thuở ấy...

Article Index

Bài Viết - Tùy Bút

Một người Pháp đã từng sống lâu năm ở Việt Nam, coi đất nước này như Tổ quốc thứ hai của ông ta, nói tiếng Việt như bạn đọc và tôi, đã có dịp viết: “Các cháu nhi đồng Việt Nam được cái may mắn là được ru ngay từ buổi ấu thơ bằng các bài ca dao, các câu tục ngữ,… vừa là những áng văn hay, lại vừa mang nặng ý nghĩa luân lý, đạo đức, nhất là về phương diện giáo dục, đặc biệt là tình thầy trò”.

 

Thật vậy, ở lớp Một - ngày xưa gọi là lớp Đồng Ấu, thầy phát cho mỗi trò một cuộn băng giấy trắng, rộng khoảng 10cm, và một mẫu chữ cái A, B, C, khuôn bằng sắt, để trò theo đó mà cắt ra nhiều chữ cái A hay B hay C…, rồi tô mực đen lên. Thầy thu thập tất cả các chữ cái đó để mà sắp xếp thành nhiều câu tục ngữ, ca dao, dán ở 4 bức tường quanh lớp học.

Không thầy, đố mày làm nên”.

Câu nói từ thuở xa xưa, ai ngờ vẫn mang tính thời sự:

Năm 1924, Frédéric Joliot (1900-1958), tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Vật lý, Hóa học công nghiệp Paris mà giáo sư Paul Laugevin làm hiệu trưởng, được ông này dẫn tới giới thiệu với bà Marie Curie (1867-1934), lúc đó đã lẫy lừng danh tiếng với giải Nobel Lý 1903, giải Nobel Hóa 1911, Viện trưởng Viện Radium, khu Latinh, quận V, Paris.

Ông được bà Marie Curie nhận làm phụ tá, hướng dẫn làm luận án Tiến sĩ bảo vệ năm 1930 về đề tài: “Các tính chất phóng xạ của nguyên tố Polonium” mà chính bà đã phát minh năm 1898. Năm 1934, Joliot cùng với vợ là Irène Curie (1897-1956), con gái bà Curie, phát minh phóng xạ nhân tạo và cả hai lãnh giải Nobel 1935.

Muốn sang thì bắc cầu kiều,

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.

Tình yêu lành mạnh có thể nảy nở trong một phòng nghiên cứu khoa học. Marie Sklodowska (1867-1934) từ Warsawa (Ba Lan) tới du học ở Paris năm 1891, đậu cử nhân Vật lý năm 1893, cử nhân Toán năm 1894, thủ khoa thạc sĩ Vật lý năm 1896, bảo vệ luận án Tiến sĩ quốc gia về “phóng xạ thiên nhiên” ngày 25-6-1903. Năm 1900, bà làm giáo sư ở Trường Đại học Sư Phạm nữ giới (Sèvres), và năm 1906, giáo sư ở Viện Đại học Paris.

Bà kết hôn năm 1895 với Pierre Curie (1859-1906) là thầy hướng dẫn. Hai người cùng phát minh nguyên tố Polonium và nguyên tố Radium năm 1898, cùng lãnh giải Nobel Lý 1903, bà Marie Curie còn lãnh thêm giải Nobel Hóa 1911. Hai người được hai con gái: Irène (Nobel Hóa 1935) và Ève (nữ văn sĩ).

Năm 1926, Frédéric Joliot, phụ tá của bà Marie Curie, nghiên cứu sinh, kết hôn với Irène Curie, con gái bà. Hai người được một con gái, Hélène, cũng là một Vật lý gia hạt nhân. Hélène kết hôn với cháu nội giáo sư Langevin; năm 1998, nhân kỷ niệm lần thứ 100 năm phát minh Radium, bà Hélène Langevin - Joliot có tới thành phố Hồ Chí Minh và được tiếp đón nồng nhiệt.

Tầm sư học đạo”:

Công việc đầu tiên khi có một công trình nghiên cứu dài hạn là “tìm thầy hướng dẫn”.