Cánh hồng dành cho Cha
- Details
- Category: 2010-08
Article Index
Bài Viết - Tùy Bút
Vị Ân Sư thứ Nhất trong đời: Cha Tôi
Kính dâng hương hồn phụ thân người đầu tiên cho con niềm tin Phật Pháp
Trẻ con thì thật là buồn cười , có thể khóc la vì một lời nói cỏn con vô nghĩa lý. Tôi còn nhớ câu chuyện cải vả giữa tôi và thằng Được.
Lêu, lêu, lêu, thầy giáo lá, ăn cháo cá, hổng trả tiền.
Lêu, lêu, lêu, thầy giáo lá, ăn cháo cá, hổng trả tiền.
Tôi vừa chạy theo thằng Được , vừa khóc vừa la: “ Mầy nói bậy, mầy nói bậy, tao mét ngoại mày.
Bà Năm từ trong nhà bước ra, kêu thằng Được lại đứng trước mặt tôi mà nói: “ Cả vùng này chỉ có ba nó thi đậu để được học làm thầy giáo; còn bà ngoại nó là người nhân đức đã giúp đở gia đình mình. Con không được phá nó nghe chưa.”
Tôi chạy u về nhà xà vào lòng mẹ, thỏa thích vì lời nói của bà Năm nhưng vẫn còn thắc mắc tại sao ngoại mình lại là người ân của gia đình họ.
Ba tôi cho biết lúc còn sanh tiền, cứ vào tháng Tư và tháng Bảy Âm lịch là ngoại mua hàng trăm bao gạo để bố thí cho người nghèo khổ. Rồi cũng vào mùa Vu Lan tháng Bảy mỗi năm, hể gia đình nào có thân nhân qua đời mà không đủ tiền mua hòm hay lo việc tống táng thì ngoại tôi lo hết. Mẹ bà Năm qua đời được ngoại lo chu đáo, nên bà nhớ ơn ngoại.
Ông nội tôi thứ Tám là con út trong một gia đình chỉ có ba người còn sống. Ông nội tôi qua đời khi ba tôi được mười tuổi, chú Ba bốn tuổi và cô Tư vừa lên một tuổi. Bà nội tôi góa bụa ở cái tuổi ba mươi, làm công cho người anh chồng là ông bác Sáu tôi trong cái nhà bảo sanh tại xóm Bình Hòa.
Ông Bác Hai và ông Bác Sáu là người giàu có trong vùng. Ông Bác Sáu tôi có xây một ngôi chùa ở xóm Bình Hòa vùng Chợ lớn. Ngôi chùa có tên Phổ Đà. Ông Bác Sáu phải ra tận Quảng Nam rước một thầy về làm Giáo Thọ. Ông Bác Sáu tôi không rành chữ Hán, vì ông là Y tá trong bệnh viện Nam Việt thời bấy giờ. Ông lập nhà bảo sanh rất lớn vào thời đó tại vùng nầy, nhưng sau khi xây chùa rồi thì đi tu. Chùa có tượng Di Đà cao gần hai mét bằng gỗ mít, tượng được sơn son thếp vàng.
Ba tôi sống hơn ba năm tại ngôi chùa này. Ba cho biết là cũng vào ngày rằm tháng Bảy Ba cùng ông bác Sáu đi khắp mọi nơi trong vùng phát tiền và vải cho người nghèo. Cứ mỗi cuối tuần là Ba đi lượm giấy chữ Nho đem về đốt; ông Bác Sáu giải thích việc làm này là vì chữ Nho in Kinh Phật, nên không được sử dụng bừa bãi. Ba còn nói vào những độ trăng rằm, cả chùa cùng nhau ra lạy mặt trăng. Đến năm 1969, khi hai Phi hành gia người Mỹ đầu tiên đặt chân lên thăm chị Hằng, Ba nói phải chi ông Bác Sáu còn sống, ông sẽ cười phì khi thấy điều phi lý của việc mình làm.
Thầy Phước Thái thường nói cái gì cũng phải có nhân duyên cả. Tôi kể lể dài dòng để cho thấy Ba tôi cũng có chút vốn liếng về Phật pháp nên đã dạy dỗ tôi. Vậy ba là vị thầy đầu tiên đã gieo duyên lành khiến cho mấy chị em tôi biết được giáo lý cao cả này.
Tối tối, ba thường đem chuyện về cuộc đời Đức Phật và những chuyện cổ tích tương tự kể cho chúng tôi nghe . Sau buổi cơm chiều vào mỗi tối Thứ Bảy và Chúa Nhựt , ba tập chúng tôi ngồi bán già trước bàn thờ Phật để tụng sám hối. Nói là nói như vậy nhưng chúng tôi chỉ ngồi để nghe ba tụng mà thôi. Ba có giọng đọc ngân nga và trầm ấm, chúng tôi đứa nào cũng cho là giọng ba thật truyền cảm và gây được sự thích thú cho chúng tôi. Ba nhắc lại lời ông Bác Sáu thường nói với ba là mình tội lỗi nhiều thì chỉ cần sám hối là tâm hồn được an lành thì không cần phải cầu an gì nữa. Ngang hông trường tôi học là chùa Xá Lợi . Mỗi năm chúng tôi được Ba đưa đến chùa vào tối 30, đọc kinh rồi dự tiệc trà đạo vị do ngài Chánh Trí Mai Thọ Truyền tổ chức.
Tôi không nhớ rõ năm nào của thập niên 1950, Hội Phật học Nam Việt do ngài Chánh Trí Mai Thọ Truyền làm Hội Trưởng, Bác sỉ Cao Văn Trí là Phó hội trưởng lấy chùa Xá Lợi làm trú sở thì ba là hội viên. Vào thập niên 60, cứ mỗi lần chùa Xá Lợi có tổ chức thuyết pháp mà do ngài Mai Thọ Truyền thuyết giảng là ba cố gắng khuyến khích và cổ động cả nhà cùng đến nghe. Có lần thầy Thông Kham cũng thuyết giảng tại giảng đường chùa Xá Lợi với bài pháp nói về nhân duyên giữa cha mẹ và con cái. Ba khen thầy Thông Khâm giảng hay có tính triết lý và khoa học. Tôi thầm cảm ơn Trời Phật đã cho tôi được cái nhân duyên làm con ba mẹ tôi. Thầy Thông Khâm là vị Pháp sư có tài biện thuyết rất hay. Thầy vốn là tu sĩ phái Nam tông đã hoàn tục. Hai vợ chồng thầy qua đời trong một trường hợp rất bi thương mà tôi không dám thuật lại; các vị tu sĩ bạn đều cho là chẳng qua là sợ ứng nghiệp mà thầy phải trả.
Ngài Chánh Trí ra đi rất nhẹ nhàng và bình yên trong sự thương tiếc của mọi người. Ba cho đó là sự mất mát lớn của hội Phật học Nam Việt. Vì ngài Chánh Trí thuyết Pháp với lời lẽ rõ ràng mạch lạc với lý luận vững chắc có tính khoa học lại biết cách điều hành cùng tổ chức hội Phật học Nam Việt thành công. Phải chi ba còn sống đến ngày nay, để được nghe thầy Phước Thái giảng và thấy thầy sắp xếp cùng các khóa tu học thì chắc Ba cũng sẽ rất hài lòng.
Sau này, mỗi lần nhắc đến ngôi chùa của ông Bác Sáu thì tôi lại nhớ câu nói của Hòa thượng Phước Huệ trước mọi việc thay đổi của cuộc đời của lòng người: “ Còn duyên hợp giả duyên tan.” Ông Bác Sáu tôi chắc cũng biết cái sự thường tình của việc tan hợp này sẽ đến với ngôi chùa đó. Vì thế nên ông đã không để cho Ba tôi thừa tự nó, mặc dù ông không có đứa con nào cả và ba tôi lại là cháu đích tôn trong dòng họ và lại đã từng tu học tại ngôi chùa này.
- Prev
- Next >>





